Vượt đường nguy hiễm này, Nhiếp phục luân hồi, si, Ðến bờ kia thiền định Không dục ái, không nghi, Không chấp trước, tịch tịnh, Ta gọi Bà-la-môn.
Vượt khỏi con đường gồ ghề lầy lội, ra khỏi biển luân hồi ngu si mà lên đến bờ kia, an trú thiền định, không dục vọng, không nghi lầm, cũng không chấp đắm rằng mình chứng Niết bàn tịch tịnh, người như thế, Ta gọi là Bà la môn.

Chú giải chi tiết

Pháp cú nầy Phật dạy tại Kundadhanavana, gần Kundakoji, có liên quan đến Tôn giả Sivali. Theo truyện tích, bà Suppavasa mang thai đến bảy năm mới sanh. Khi sanh đứa bé, bà bị cơn đau hoành hành dữ dội. Trong lúc đau đớn, bà liền nghĩ đến đức Phật: “Đức Phật là bậc Đại Giác Ngộ. Ngài đã dạy con đường thoát khổ cho mọi người. Ai thật hành đúng theo lời Ngài dạy thì sẽ được thoát khổ và sẽ đạt đến quả vị Niết bàn”. Nhờ quán tưởng như thế, bà chịu đựng nhẫn được cơn đau. Bà bảo ông chồng thay bà đến đảnh lễ đức Phật. Ông bạch với đức Phật về những nguyện ước của bà. Đức Phật chúc bà an khỏe và sanh con trai. Lời chúc nguyện của Phật vừa xong, bà liền hạ sanh đứa con trai trông thật kháu khỉnh, hồng hào, đẹp đẽ. Sau đó, bà thỉnh Phật và chư Tăng đến nhà thiết lễ cúng dường trai Tăng suốt bảy ngày. Lớn lên, cậu bé phục vụ hầu chư Tăng và rồi xuất gia tu hành đắc quả A la hán. Thấy thế, các thầy Tỳ kheo khác bàn tán về việc thầy Sivali phải ở trong bụng mẹ chịu khổ suốt bảy năm trời. Không hiểu lý do tại sao một thầy chứng quả A la hán cao quý, mà phải chịu cái cảnh khổ sở như thế? Các thầy thắc mắc và bạch trình với đức Phật. Đức Phật bảo: - “Này các Tỳ kheo, đúng thật như vậy. Ông ấy giờ đã thoát hết khổ, đạt đến Niết bàn an lạc”. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện) Vì niệm bất giác tạo nghiệp, mà chúng sanh mãi trôi lăn chịu nhiều khổ đau trong vòng luân hồi sanh tử. Nhận thức được con đường gồ ghề lầy lội sanh tử đó, chúng ta cần phải gấp rút lo tu hành. Phải thường xuyên quán chiếu lại mình. Phải nhìn thấy rõ đâu là con đường đưa đến khổ đau và đâu là con đường đưa đến an vui hạnh phúc. Đức Phật dạy ta phải tìm cho được nguyên nhân gây ra đau khổ. Có thấy được nguyên nhân, chúng ta mới có thể diệt trừ được. Sự sống, nếu chúng ta thiếu chánh kiến, chánh niệm, nhìn sâu vào cuộc đời, thì coi chừng chúng ta sẽ trở thành một cái máy người khi nào không biết. Khi tiếp cận với sự sống, chúng ta luôn đánh mất mình. Mất mình một cách thật oan uổng! Hằng ngày, chúng ta hít thở không khí, ăn uống, làm việc tính toán đủ mọi thứ trên đời, nhưng có bao giờ chúng ta ý thức được rằng mình đang thở, đang cười, đang nói và đang ăn uống, làm việc v.v… chưa? Chắc là chúng ta không biết sự có mặt hiện thực của mình trong những lúc đó. Như vậy, chúng ta tự hỏi cuộc sống của mình là gì? Chỉ là ăn, mặc, ở, nói, cười, làm việc, giao tiếp v.v… và chỉ có thế thôi sao?! Không lẽ từ khi sanh ra có mặt với đời cho đến ngày nhắm mắt ra đi, chỉ có bao nhiêu việc ngần ấy cứ thế mà lặp đi lặp lại hoài thôi sao? Thật là phi lý và vô vị biết bao! Không. Sự sống không phải chỉ có đóng khung ngần ấy. Chúng ta phải khám phá tìm cho được cái gì cao quý chân thật hơn nữa trong đời sống. Nếu chúng ta chỉ biết dừng lại và thỏa mãn những nhu cầu cho sự sống ngang đó, thì vĩnh kiếp chúng ta vẫn mãi mãi trôi lăn trong cuộc đời đầy hệ lụy khổ đau nầy. Trong nhà Phật thường gọi là trôi lăn trong ba nẻo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) sáu đường (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, và A tu la). Là người sống có lý tưởng mong cầu giải thoát, chắc chắn là chúng ta sẽ không bao giờ chịu dừng lại ngang đó. Pháp cú trên, Phật dạy chúng ta muốn ra khỏi biển luân hồi ngu si lên bờ giải thoát, thì chúng ta phải luôn an trú trong thiền định (hằng sống trong tỉnh thức) không đòi hỏi tham muốn làm thỏa mãn những nhu cầu thèm khát của dục vọng sai khiến, không nên nghi ngờ nhân quả, con đường chánh pháp có khả năng đưa chúng sanh thoát khỏi mọi ràng buộc chấp trước khổ đau. Có thế, thì mới không uổng phí đời người, vì đã tìm ra một lẽ sống lý tưởng chân thật vậy. Chuyện lược dẫn trên cho thấy, trong cảnh khổ đau cùng cực, bà Suppavasa đã liên tưởng đến đức Phật và những lời giáo huấn của Phật, làm cho cơn đau đớn hành hạ bà dịu lại. Đó là nhờ bà khéo tập trung tâm ý quán tưởng mạnh của bà. Điều nầy không phải dễ làm, nếu hằng ngày chúng ta không có sức huân tu đạo lực mạnh, thì khó mà được an tâm. Đối với người thường trong lúc đau đớn như thế, thì chỉ biết rên la nghĩ đến cơn đau nhức mà thôi. Do đó, muốn vượt qua khỏi khổ đau, ta phải có định lực thiền quán sâu mạnh. Không thể tu lai rai lơ là mà được như thế. Đến thầy Visali, mặc dù ở trong thai mẹ suốt bảy năm, nhưng nhờ căn lành trồng sâu, nên khi chào đời được sống hầu cận chúng Tăng và Phật. Nhờ đó mà ông được Phật hóa độ xuất gia tu hành thành A la hán. Hiện đời, chúng ta cố gắng huân tu thiện nghiệp sâu dày và gieo trồng căn lành với Phật pháp, thì nhứt định trước sau gì chúng ta cũng sẽ được đạt thành sở nguyện.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 414 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?