Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến một người Bà la môn. “Khi chưa có điều luật không cho phép nhận nô lệ trốn chủ vào Tăng đoàn, một hôm người nô lệ của một Bà la môn đến xin xuất gia. Y được nhận vào Tăng đoàn và chẳng bao lâu chứng A la hán. Người Bà la môn tìm khắp nơi nhưng không gặp. Một hôm đức Phật dẫn vị A la hán ấy vào thành khất thực, người Bà la môn trông thấy ở cổng thành bèn níu y của Tôn giả nọ. Đức Phật quay lại hỏi: - Nầy Bà la môn, chuyện gì vậy? - Thưa Ngài Cồ đàm, đây là kẻ tôi tớ của tôi. - Nầy Bà la môn, gánh nặng đã rời khỏi y. Nghe đức Phật nói, người Bà la môn lập tức hiểu rằng người ấy đã chứng A la hán. Ông hỏi lại: - Có thật không, thưa Cồ đàm? Đức Phật xác nhận: Thật vậy, gánh nặng của người ấy đã buông xuống rồi”. (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 353) Xã hội Ấn Độ thời Phật người ta phân chia thành bốn giai cấp rất rõ rệt: 1. Giai cấp Bà la môn, gồm những Giáo sĩ giữ quyền thống trị tinh thần, chuyên phụ trách về những việc lễ nghi cúng tế. 2. Giai cấp Sát đế lợi, là hàng vua chúa quý phái, nắm quyền cai trị về chánh trị. 3. Giai cấp Phệ xá, gồm những thương gia chủ điền chuyên lo vấn đề kinh tế trong nước. 4. Giai cấp Thủ đà la, là hàng hạ tiện nô lệ, phục dịch làm khổ sai suốt đời cho ba giai cấp trên. Đó là những giai cấp bất công nhất của xã hội Ấn Độ trước khi Phật ra đời cũng như trong thời đại của đức Phật. Có thể nói, đức Phật là người đả phá san bằng những cái hố giai cấp bất công nầy. Ngài đã đem lại cho mọi người có một đời sống bình đẳng ngang nhau. Ngài không phân biệt sang hèn, nghèo giàu, bất cứ họ thuộc giai cấp nào, Ngài cũng đều hóa độ tất cả. Dù người đó có học thức hay dốt nát, thậm chí những hạng người mà xã hội liệt họ vào thành phần bất trị, là những con sâu mọt ăn hại phá hoại xã hội, Ngài cũng độ họ trở thành những con người lương thiện cao quý. Chuyện dẫn chứng trên là một chứng minh cụ thể cho vấn đề đó. Một kẻ nô lệ đến xin Phật xuất gia, và đã được đức Phật thâu nhận vào Tăng đoàn. Việc làm nầy, đối với xã hội giai cấp thời đó, phải nói đây là một cuộc cách mạng vĩ đại của đức Phật. Đức phật đã bị xã hội đương thời chống đối kịch liệt. Nhưng với chủ trương một nền giáo lý bình đẳng, mỗi chúng sanh đều sẵn có tánh giác sáng suốt như nhau, và nếu ai chịu khó tu hành đạt ngộ chân lý, cuối cùng, cũng có thể thành Phật như Ngài. Đó là một nền giáo lý tôn trọng quyền tự do tinh thần bình đẳng tuyệt đối của con người. Do đó, nên đức Phật cương quyết giữ vững lập trường, vượt qua mọi trở ngại chống đối bất cứ từ đâu đến. Vì thế, người ta thấy, trong Tăng đoàn của Ngài có đủ mọi giai cấp thành phần, từ hàng quý phái sang trọng giàu có nhứt, cho đến hàng cùng đinh dốt nát nghèo khổ. Nhưng khi gia nhập sống chung trong một Tăng đoàn, thì mọi mâu thuẫn phân chia không bao giờ xảy ra. Tất cả đều nỗ lực thẳng tiến tu hành thành tựu đạo quả. Ngoại trừ một số ít chống đối phá hoại Tăng đoàn gây ra sự bất hòa, như nhóm Lục quần Tỳ kheo, hay nhóm của Đề bà đạt đa chẳng hạn. Ngoài ra, tất cả đều gìn giữ lục hòa nghiêm túc và có đời sống thánh thiện cao cả. Đó là Phật nói, họ đã trút bỏ gánh nặng phiền não và đã được an lạc giải thoát. Người nào được như thế, Phật nói, mới xứng danh là Bà la môn.
Thiền sư AI
Trực tuyến