Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến Bà la môn Đại Hỷ, Pasadabahula. Theo truyện tích, Bà la môn Pasadabahula sau khi nghe Phật thuyết pháp, từ đó ông phát tâm luôn thỉnh mười sáu vị Tỳ kheo đến nhà cúng dường. Ông ân cần tiếp đón các thầy rất cung kính niềm nở. Đối với các thầy Tỳ kheo, ông đều xưng hô là A la hán cả. Trong số các thầy, có thầy chưa chứng sơ quả nghĩ thầm: “Ông cư sĩ nầy tưởng trong chúng ta có thầy chứng A la hán”. Còn các thầy chứng A la hán lại nghĩ: “Ông cư sĩ không biết chúng ta đã đắc A la hán”. Kết quả, các thầy đều buồn lòng không đến nhà ông nữa. Ông Bà la môn không hiểu duyên cớ thế nào, nên đến tinh xá bạch hỏi đức Phật. Đức Phật hỏi các thầy Tỳ kheo và bảo: Các ông không muốn ông ấy gọi các ông là A la hán ư? Các thầy trả lời là không. Đức Phật ôn tồn giải thích và cho đó là cách xưng hô để bày tỏ tấm lòng hoan hỷ. Việc biểu hiện niềm hoan hỷ ấy đâu có gì sai trái. Phật khen Bà la môn về tấm lòng quý mến các thầy Tỳ kheo của ông thật vô bờ. Đồng thời Phật thức nhắc các thầy Tỳ kheo là phải diệt trừ tham ái, không nên lấy việc chứng A la hán là sự mong muốn duy nhất của mình. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện) Phẩm Bà la môn gồm có 41 câu nói về phẩm hạnh của Bà la môn. Bà la môn (Brahmana) nói trong phẩm nầy, là chỉ chung cho những người tu hành thanh tịnh chớ không phải như nghĩa thông thường nói về giai cấp Bà la môn. Đức Phật nhấn mạnh về hạnh tu của một người có đức độ phạm hạnh cao, chớ không phải chỉ về dòng dõi hay là hình thức bề ngoài. Pháp cú trên, đức Phật bảo một người thật hành hạnh tu Bà la môn là phải dũng cảm đoạn trừ lòng ái dục. Vì sao phải dũng cảm? Bởi ái dục là cội gốc phiền não rất lớn thật khó đoạn trừ. Nếu người tu hành mà thiếu ý chí cương quyết mạnh mẽ và lòng can đảm mãnh liệt, thì không thể nào xa lìa ái dục, chứng được Niết bàn. Muốn xa lìa ái dục, Phật dạy, phải “thấu rõ các uẩn diệt tận”. Nói diệt tận là vì tự thể của các uẩn vốn không. Chúng do duyên hợp mà có. Nói các uẩn, chúng ta có thể hiểu rộng ra là muôn pháp. Thấu rõ các uẩn là thấu rõ vạn pháp thể tánh vốn không. Thấu rõ được tánh không nầy là thấy được vô tác. Vô tác là không do ai tạo ra. Các pháp do nhân duyên hội tụ sinh thành. Các pháp vốn là như thế, không do bàn tay nào tạo tác làm ra. Cho nên, Phật nói: “Các người liền thấy được vô tác”. Vô tác là tên khác của Niết bàn. Vì không ai tạo tác nên thể tánh của muôn pháp là vắng lặng. Thể hay tự tánh thì vắng lặng, nhưng tướng thì vẫn có. Cái có đó cũng chỉ là giả tướng mà thôi. Chuyện lược dẫn trên, Phật khen ông Bà la môn với tâm hoan hỷ quý kính các thầy. Ngược lại, các thầy còn bị dính kẹt vào danh tướng nên tỏ ra buồn lòng qua cách xưng hô của ông Bà la môn. Khi dính kẹt vào danh tướng, tất nhiên, là có sanh tâm bảo thủ chấp trước. Đó là vì các thầy chưa hiểu rõ bản chất của các pháp vốn là giả danh, không thật. Chấp chặt vào giả danh, giả tướng, thì chẳng khác nào theo đuổi nắm bắt một làn hương, hay tìm người trong giấc mộng. Thế thì, thử hỏi làm sao giải thoát? Muốn thấu đạt chân lý, Phật dạy phải xả ly tất cả. “Ly nhứt thiết tướng, tức nhứt thiết pháp”. Nghĩa là, rời lìa tất cả pháp, thì sẽ được tất cả. Vì tất cả pháp không ngoài bản tâm thanh tịnh mà có. Chúng ta còn nhớ, đức Lục Tổ Huệ Năng, sau khi đại ngộ, Ngài thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh. Ngài nêu ra trình bày với đức Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn năm cái đâu ngờ: Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ Đâu ngờ tự tánh vốn không giao động Đâu ngờ tự tánh vốn sanh muôn pháp. Sau khi trình bày, đức Ngũ Tổ liền ấn chứng cho Ngài làm vị Tổ thứ sáu, rộng độ chúng hữu tình, truyền pháp đời sau không cho đoạn dứt.
Thiền sư AI
Trực tuyến