Như ngựa hiền chạm roi, Hãy nhiệt tâm, hăng hái, Với tín, giới, tinh tấn, Thiền định cùng trạch pháp. Minh hạnh đủ, chánh niệm, Ðoạn khổ này vô lượng.
Các ngươi hãy nỗ lực sám hối như ngựa đã hay còn thêm roi. Hãy ghi nhớ lấy chánh tín, tịnh giới, tinh tiến, tam-ma-địa (Thiền định) trí phân biệt Chánh pháp, và Minh hạnh túc để tiêu diệt vô lượng thống khổ.

Chú giải chi tiết

Pháp cú nầy Phật nói tại tinh xá Kỳ Viên, cũng liên quan đến trưởng lão Politika đã nói ở trên. Đọc qua pháp cú nầy, chúng ta nên chú ý những từ ngữ mà Phật răn dạy. Để hiểu phần nào qua lời Phật dạy trên, thiết nghĩ, chúng ta cũng nên tìm hiểu sơ qua từng vấn đề một. 1. Nỗ lực Sám Hối: Sám hối là một thuật ngữ của Phật giáo. Sám hối nguyên tiếng Phạn là samma, người Trung Hoa dịch là hối quá. Sám có nghĩa là ăn năn lỗi trước. Hối nghĩa là nguyện chừa bỏ lỗi sau. Nguyện từ đây về sau không bao giờ tái phạm lại lỗi lầm đó nữa. Sám hối có nhiều cách: Hồng danh sám hối. Tác pháp sám hối. Thủ tướng sám hối và cuối cùng là Vô sanh sám hối. Ba sám hối trước thuộc về “Sự”, cái sau thuộc về “Lý”. Về ý nghĩa của các loại sám hối nầy, trong Pháp Cú tập một, chúng tôi đã có giải thích qua. Ở đây, chúng tôi không lặp lại. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng, là con người sống trên đời nầy, không một ai là không lầm lỗi, chỉ trừ các bậc Thánh nhơn. Đã có tội lỗi mà chúng ta muốn hết, thì Phật dạy người Phật tử phải thường xuyên sám hối. Hoặc phát lồ sám hối hay thủ tướng sám hối v.v… tùy theo căn cơ trình độ và sức khỏe của mỗi người mà chọn cho mình một phương pháp sám hối thích hợp. Phương pháp sám hối tuy có cao thấp, sâu cạn, khó dễ khác nhau, nhưng mục đích chính vẫn là sám hối ở nơi tự tâm mình. Vì tội từ tâm khởi, thì cũng phải từ tâm mà sám. Có thế, thì tội lỗi mới thuyên giảm và hết được. Còn sám hối theo kiểu chỉ biết chạy theo hình thức bên ngoài, hì hục khum lên lạy xuống mà không thành tâm cải hối ở nơi tự tâm, thì đó không phải là sám hối đúng cách theo đạo Phật. Người Phật tử sám hối như thế, thì vạn kiếp cũng không hết tội. Cho nên ở đây Phật dạy, người Phật tử phải nỗ lực chuyên cần sám hối từng giây phút nơi tâm mình. Một vọng niệm sai quấy khởi lên, chúng ta liền sám hối. Có sám hối thường xuyên như thế, thì mới chuyển hóa được những hạt giống xấu trong tâm. Như thế, chúng ta mới thực sự sám hối và mới thực sự có lợi ích cho mình và người. 2. Ghi nhớ lấy chánh tín: Chánh tín là niềm tin chơn chánh, là niềm tin đúng với chân lý nhân quả. Nếu chúng ta tin lệch ra quỹ đạo nhân quả Phật dạy, thì đó là mê tín hay tà tín. Do đó niềm tin của người Phật tử rất quan trọng. Nếu người Phật tử đặt định niềm tin sai lệch theo tà ngoại, thì than ôi! Đời ta sẽ rơi vào con đường ác đạo và không biết đến bao giờ mới được thoát ly. Vì thế, nên ở đây, Phật dạy chúng ta cần phải ghi nhớ khắc sâu hai chữ “Chánh Tín”. 3.Tịnh giới và tinh tiến: Phật dạy, người tu hành dù tại gia hay xuất gia, nếu muốn được giải thoát, thì mỗi người phải giữ gìn tịnh giới một cách nghiêm nhặt. Có giữ giới thì tâm ta mới được thanh tịnh, nên gọi là tịnh giới. Ngược lại, nếu chúng ta khinh thường giới luật, không giữ gìn, thì chúng ta sẽ tự chuốc lấy những đau khổ ràng buộc vào thân. Cho nên, giới luật là căn bản của đạo giải thoát mà Phật dạy người Phật tử cần phải nghiêm trì. Hơn thế nữa, sự tu hành không chỉ một ngày một bữa, mà phải thường xuyên áp dụng lời Phật dạy vào đời sống hằng ngày. Phải luôn luôn tinh tấn nỗ lực kiên trì. Dù hành trì bất cứ pháp môn nào, người Phật tử muốn có kết quả tốt đẹp, thì phải siêng năng giữ vững ý chí lập trường, quyết lòng đi tới không hề thối bước lui sụt. Có tinh tấn, mới đạt được thành công như ý nguyện. 4. Tam ma địa hay Thiền định: Thiền định là pháp tu căn bản của đạo Phật. Dù hành giả tu bất cứ pháp môn nào, nếu tâm không an định, thì đó là tu sai với chánh pháp. Và như thế, thì không phải pháp tu của đạo Phật. Vì tâm có định, thì trí huệ mới khai phát. Theo giáo lý Nguyên Thủy, Phật dạy, muốn có định, thì hành giả phải giữ giới nghiêm minh như đã nói ở trên. Nhờ giữ Giới nên mới có Định và từ Định mới phát Huệ. Đây gọi là “Tam vô lậu học”, là ba môn học giải thoát phiền não, chấm dứt sanh tử khổ đau. Hành giả tu theo ba môn học nầy, thì chắc chắn sẽ được an lạc giải thoát. 5. Trí phân biệt chánh pháp: Trong bài kệ thì gọi là Trạch pháp. Người tu cần phải chọn cho mình một pháp môn thích hợp với căn cơ trình độ của mình. Vì trong đạo Phật có vô lượng pháp môn tu. Thế nên, tu hành muốn có kết quả, tất nhiên, chúng ta phải trạch pháp. Trạch là chọn lựa. Pháp là giáo pháp hay pháp môn. Muốn chọn lựa đúng pháp, thì cần phải có trí huệ biện biệt, nên nói là Trí phân biệt chánh pháp. 6. Minh hạnh túc để tiêu diệt vô lượng thống khổ: Minh hạnh túc còn gọi là Minh thiện hành hay Minh hạnh viên mãn. Nghĩa là đầy đủ Minh và Hạnh. Đây là một trong mười danh hiệu của Phật. Minh có nghĩa là sáng suốt, tức trí huệ. Còn Hạnh là công hạnh, biểu hiện ở nơi oai nghi hình tướng, tức chỉ cho phần giới luật. Nói cách khác, Minh thuộc về Trí, còn Hạnh thuộc về Phước. Người tu hành cần phải đủ cả hai phước trí trang nghiêm. Đức Phật nhờ tu cả hai, nên Ngài mới tiêu diệt vô lượng thống khổ và đạt được giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Tóm lại, người tu từ địa vị phàm phu mà muốn tiến lên Thánh quả, thì Phật dạy, trước hết phải sám hối những tội lỗi đã gây và nguyện một lòng tiến tu không tái phạm như ngựa hay lại thêm roi. Trong khi tiến tu, cần phải ghi nhớ chánh tín nhân quả, không được tin sằn nghĩ quấy, theo tà ma ngoại đạo. Chỉ một lòng tin Tam Bảo đúng theo chánh pháp Phật dạy. Phải luôn luôn lấy giới luật làm thầy. Ngày đêm luôn nhớ giữ gìn tịnh giới một bề tinh tấn như con tuấn mã thẳng tiến không hề bê tha giải đãi. Nhờ đó, mà được thiền định và có trí huệ sáng suốt để biện biệt rành rõ pháp môn tu hành. Bằng vào nỗ lực quyết chí tu hành nên hành giả được đầy đủ phước đức và trí huệ. Từ đó, mọi phiền não không còn và được an lạc giải thoát.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 144 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?