Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến trưởng lão Pilotika. Vị trưởng lão nầy, trước khi xuất gia, ông ta là một thanh niên đói rách ăn xin lang thang rày đây mai đó. Sau khi gặp Tôn giả A Nan, được A Nan thâu nhận cho xuất gia. Khi xuất gia, ông trở nên một Tỳ kheo đắp y, do tín thí dâng cúng và đi hành hóa khắp nơi. Một hôm, ông nghĩ đến cái tấm y giẻ rách mà xưa kia ông đã mặc vào mình để đi xin ăn. Nay trở lại tìm kiếm nơi mà trước kia ông đã quăng nó trên một cành cây. Trong khi tìm kiếm, ông khởi niệm thiền quán và tự thống trách với tấm lòng hổ thẹn. Ông tự trách: tại sao mình phải tìm kiếm nó? Tìm kiếm nó để làm gì ? Vì cái đó đã mất rồi. Cái gì đã mất rồi, tại sao mình phải tìm kiếm lại? Tìm kiếm thế có ích lợi gì không ? Ông cứ mãi thiền quán về những câu hỏi đó. Không bao lâu, ông đã chứng quả A la hán. Và từ đó, mọi vọng tưởng phiền não ràng buộc thế gian coi như chấm dứt. Khi trở về tinh xá, ông trình bày sự thật về sự chứng quả của ông. Khi ông nói, các vị Tỳ kheo khác không tin, cho là ông nói dối. Liền đó, ông được đức Phật xác chứng lời ông nói là sự thật. Và do đó, Phật nói pháp cú nầy. Trong đạo Phật thiền quán rất quan trọng. Bất cứ thiền quán về vấn đề gì. Tu học mà thiếu thiền quán, khác nào như người đầu bếp nấu ăn mà không có muối. Dù người đầu bếp đó có tay nghề thiện xảo đến đâu, mà thiếu muối cũng không làm sao nấu thức ăn ngon được. Thiền quán đối với người tu học cũng thế. Dù hành giả tu bất cứ pháp môn nào, nếu thiếu thiền quán, cũng không thể nào đạt được sở nguyện. Nhờ thiền quán mà trí tuệ khai phát. Bởi thiền quán tự nó đã có định rồi. Khi ta tập trung vào một đối tượng nào đó để quán sát, tất nhiên, tâm ta sẽ dễ được an định. Như chúng ta quán niệm hơi thở chẳng hạn. Nhờ theo dõi quán sát hơi thở lâu ngày mà tâm ta được an định. Điều nầy là một lẽ thật. Nếu như chúng ta cố gắng thật hành, thì chúng ta sẽ thấy cái kết quả của nó. Hổ thẹn là nghĩa của hai chữ tàm quý. Tàm quý là hai món tâm sở thiện trong mười một món thiện của Duy Thức Học. Tàm nghĩa là hổ thẹn với chính mình. Còn quý là hổ thẹn với người khác. Cả hai đều nói lên một ý nghĩa cao đẹp hướng thượng. Hai món tâm sở thiện nầy rất cần thiết trong đời sống. Con người sở dĩ hơn loài cầm thú là vì con người còn biết hổ thẹn. Nhờ biết hổ thẹn nên con người không làm những điều sai quấy xấu ác. Nghiệp dụng của hai tâm sở nầy là ngăn ngừa hai món tâm sở ác là “vô tàm và vô quý”. Người không biết xấu hổ, chuyện gì họ cũng dám làm. Dù đó là chuyện tội ác tày trời. Họ bất chấp dư luận khen chê. Họ thuộc hạng người mà người ta thường gọi họ là thứ mặt chai mày đá hay vô liêm sỉ. Dù xã hội có lên án hay chê trách nguyền rủa họ đến đâu, họ cũng chẳng màng để ý đến. Thói nào vẫn tật nấy. Thật đây là hạng người rất khiếp đảm và vô cùng tai hại cho xã hội. Sống trong xã hội loài người, tất nhiên, con người cần phải có nhân phẩm. Mất đi đặc tánh cố hữu nầy, con người đâu khác gì loài cầm thú. Vì tự trọng thể diện nhân phẩm, nên người ta không làm những chuyện bậy bạ trái với luân thường đạo lý. Người biết tự trọng xấu hổ khi nghĩ quấy làm sai, họ đều biết ăn năn hối cãi. Trừ phi con người mất hết lương tâm đạo đức, mới không biết tự trọng nhân phẩm. Nếu người còn có chút lương tâm lương tri đạo đức, thì không ai lại không biết xấu hổ. Dù việc làm sai trái đó không ai biết, nhưng chính họ cũng tự cảm thấy xấu hổ. Họ tự thầm trách hối hận chính họ. Họ bị lương tâm cắn rứt giày vò khó chịu. Họ là người đang đi trên con đường thánh thiện. May mắn thay! Nhơn loại cũng còn có những hạng người biết hướng thiện nầy. Nếu không, thì cả thiên hạ đều đại loạn. Điều quan yếu hơn nữa, trong pháp cú trên, Phật muốn dạy chúng ta phải có tâm tàm quý trước khi nói năng hay hành động. Nếu biết lời nói hay hành động của mình nhằm mục đích: thủ đoạn, lừa bịp, gian xảo, dối trá… lợi mình hại người, thì Phật khuyên chúng ta nên biết xấu hổ ngăn ngừa. Một khi đã ngăn ngừa tiêu diệt ngay trong trứng nước, thì chắc chắn không có hậu quả xấu xảy đến với chúng ta. Người nào biết ngăn ngừa từ trong ý tưởng như thế, Phật cho đó là người khéo biết tu và thật hiếm có trên thế gian nầy. Tuy khó, nhưng nếu ai cố gắng thật hành được, thì Phật nói người đó khéo tránh khổ nhục, như ngựa hay khéo tránh roi da. Con ngựa hay, khi thấy người ta nhá roi lên là nó sẽ biết tránh ngay. Nhờ thế, mà nó không bị ăn đòn để phải chịu đau khổ. Qua so sánh nầy, Phật ngầm ý nhắc nhở mọi người, nên phải có tâm tàm quý ngay từ trong ý nghĩ, chớ đừng để cho nó phát hiện ra ngoài thành hậu quả không tốt. Chừng đó, có ăn năn hối cãi thì cũng đã muộn rồi. Chi bằng ta khéo tránh nhân xấu, thì sẽ không có quả xấu. Nếu ai cũng hằng nhớ đến hai tâm sở thiện “Tàm” và “Quý” nầy, thì chắc chắn trong đời sống hằng ngày của chúng ta sẽ ít gây ra những cảnh đau khổ cho mình và người. Vì đó là người sống có ý thức. Sống có ý thức là có chánh niệm. Mà có chánh niệm là không có khổ đau. Mong sao, mọi người nên nhớ lời Phật dạy trên để xây dựng một nếp sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội. Có thế, mới thật xứng đáng và đúng với ý nghĩa làm người vậy.
Thiền sư AI
Trực tuyến