Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên có liên quan đến Sa di Sukha. Tên Sukha là do Tôn giả Xá Lợi Phất đặt cho. Chữ Sukha có nghĩa là hạnh phúc. Khi lớn lên được 7 tuổi, chú bé Sukha liền xin mẹ đi xuất gia và được bà mẹ vui vẻ bằng lòng. Bà mẹ giao chú bé và xin được thế phát xuất gia với Ngài Xá Lợi Phất. Từ đó, chú Sa di Sukha được Ngài Xá Lợi Phất chỉ dạy cho một phương pháp thiền quán. Một hôm, Sa di Sukha trông thấy người làm ruộng thì lo dẫn thủy nhập điền, người thợ làm tên thì đang uốn từng mũi tên, thợ mộc thì đẻo bánh xe v.v… Thấy thế, Sukha liền nghĩ đến cách điều phục tâm mình. Nhờ biết cách điều phục tâm, nên không bao lâu Sukha chứng quả A la hán. Nhân đó, Phật nói pháp cú nầy. Qua pháp cú trên, ta thấy Phật nêu ra ba hình ảnh rõ rệt. Mỗi hình ảnh là một công việc chuyên môn. Việc ai người nấy làm, không xen tạp lộn lạo. Người làm ruộng thì lo dẫn nước vào ruộng. Người làm tên, thì cứ miệt mài làm tên. Thợ mộc thì lo đẻo làm bánh xe. Tất cả, đó chỉ là những công việc làm thường nhựt. Đối với những việc làm nầy, chúng ta cũng vẫn thấy hằng ngày. Nhưng đối với chúng ta, thấy thì thấy, tâm ta không có gì khác lạ. Nhưng đối với sư chú Sa di Sukha thì có khác. Mặc dù tuổi đời còn nhỏ, nhưng sư Chú được đào tạo trong một môi trường khá đặc biệt. Sư Chú được sự hướng dẫn dạy dỗ của một vị Thầy giáo thọ rất giỏi. Một bậc trí huệ đệ nhất trong hàng Thanh Văn. Đó là Ngài Xá Lợi Phất. Ngài Xá Lợi Phất chỉ dạy cho sư Chú biết cách thiền quán. Nhờ thực tập hằng ngày, nên công phu thiền quán của sư Chú đã đến độ chín mùi. Do đó, khi thấy những việc làm đó hiện ra trước mắt, sư Chú liền phản quán và biết rõ cách điều phục chế ngự tâm mình. Từ đó không bao lâu, sư Chú Sukha đạt được quả vị A la hán. Qua đó, cho chúng ta một bài học kinh nghiệm quá rõ. Khi vào đạo, được nhân duyên xuất gia, lại gặp một bậc Thầy đầy đủ kinh nghiệm trong sự hướng dẫn tu tập, thì đó là một cơ may rất lớn. Gặp được Minh Sư không phải là chuyện dễ dàng. Nếu chúng ta có được đầy đủ phước duyên, thì mới có thể gặp được. Như thế, thì chắc chắn cơ hội đạt đạo đối với chúng ta sẽ không còn xa lắm. Cho nên, đồng thời xuất gia, cùng tu, cùng học, nhưng sự tiến đạo nghiêm thân của mỗi người có sai khác. Lý do, một phần là vì ta không gặp được vị thầy hướng dẫn giỏi. Người xưa, họ rất kỹ trong việc tầm sư học đạo. Dù vị thầy không có danh vọng tên tuổi, hằng sống ẩn dật trong chốn thâm sơn cùng cốc hay ở một nơi nào đó mà ít người biết đến, thế mà với cặp mắt tinh đời hiểu đạo, người ta vẫn mang khăn gói đi tìm tới vị thầy đức độ đó để nương tựa cầu pháp tu học. Ngược lại, ngày nay thì có khác. Phần nhiều, người ta hay tìm đến những vị thầy có tên tuổi địa vị cao trong đạo. Vì có địa vị cao, nên được nhiều người biết đến. Người ta lại thích tìm đến để nương tựa, vì như thế sẽ được ảnh hưởng danh tiếng lây. Người chơn tu không cần địa vị. Địa vị của người xuất gia là khất sĩ. Khất sĩ là người xin ăn. Về vật chất, thì xin cơm áo của đàn na thí chủ để nuôi thân. Về tinh thần, thì xin giáo pháp của Phật để nuôi lớn pháp thân huệ mạng. Phật không có địa vị chức tước gì cả. Người ta gọi Phật là Như Lai hay Thế Tôn. Ngoài ra, không gọi một chức vụ gì khác, dù đức Phật là người lãnh đạo cầm đầu Tăng đoàn. Đối với người xuất gia thời nay, sao có quá nhiều chức vụ. Có người có hằng lô chức vụ. Chức vụ nào cũng kêu to. Rốt lại, cả ngày mãi quây quần chạy theo những chức vụ đó mà quên đi sự tu hành. Vì mỗi chức vụ là một trách nhiệm nặng nề phải làm. Không làm thì bị người ta chê trách, cho rằng, không chu toàn trách nhiệm. Ấy mới chết! Nhưng thà chết, biết nói sao hơn! Danh càng cao, thì té càng nặng. Dù biết trước là sẽ té và chắc chắn là té nặng, té đau! Nhưng vì háo danh vẫn không từ bỏ. Nhưng cái danh vị đó chỉ là thứ hư danh rỗng tuếch. Hễ có danh là có lợi. Cuối cùng, đời tu bị chết đuối trong biển danh lợi, khác nào như con chó chết đuối giữa dòng sông. Thật là tội nghiệp quá! Nếu ta may mắn gặp được vị Thầy chơn chánh tu hành, không màng danh lợi, thì đó là đại phước. Nhưng đối với thời nay, thì thật là khó tìm. Thường những vị nầy, ít xuất hiện trên trường danh lợi. Vì họ lo ẩn tích mai danh để dưỡng tâm nuôi đức. Nếu nói theo ngôn ngữ nhà Thiền, thì gọi là nuôi lớn Thánh thai. Đến tu học với những vị Thầy như thế, đối với xã hội, tuy vô danh tiểu tốt, nhưng đối với đạo lý giải thoát, thì lại rất gần. Đó là một sự thật. Gương hạnh giải thoát người xưa còn đó. Những tấm gương xưa, đủ chứng minh cho chúng ta thấy rõ. Thấy rõ để noi theo và trên hết là chọn cho mình có một hướng đi đúng Chánh pháp. Có thế, thì trên đường tu hành mới có hy vọng an lạc giải thoát phần nào. Bằng không, thì dù tu lâu ở trong chùa, chỉ còn lại là tính theo thời gian năm tháng lâu mau mà thôi! Nói thế, không có nghĩa là chúng ta quơ đủa cả nắm. Dĩ nhiên, cũng có những vị tuy có chức vụ trong đạo, vì muốn để thuận theo thời thế cho thích nghi với xã hội văn minh tân tiến thời nay, nhưng các Ngài vẫn tu hành có kết quả cao. Nghĩa là vẫn có phần nào an lạc giải thoát tự tại trong cuộc sống. Tuy nhiên, đối với những bậc Thầy có đầy đủ đạo lực đức hạnh như thế, thử hỏi được có bao nhiêu người trên thế gian nầy? Dù cho viện dẫn biện minh dưới hình thức nào, chúng ta cũng không thể qua khỏi cặp mắt tinh tế của người đời. Dù người đời không biết, nhưng mỗi người chúng ta cũng tự biết. Chỉ có lòng ta mới biết rõ ta nhất. Giấu được người chớ làm sao giấu được mình? Chỉ có đức tánh thành thật mới thực sự lâu bền và mới thực sự là người có đạo đức. Nói rõ hơn mới thực sự là bậc chơn chánh tu hành. Ngoài ra, chỉ là giả dối lợi dụng chiếc áo nhà tu để mưu cầu lợi dưỡng mà thôi! XI. PHẨM GIÀ (Jaràvagga)
Thiền sư AI
Trực tuyến