Ai sống tự trang sức, Nhưng an tịnh, nhiếp phục, Sống kiên trì, phạm hạnh, Không hại mọi sinh linh. Vị ấy là phạm chí, Hay sa môn, khất sĩ.
Người nào nghiêm giữ thân tâm tịch tịnh , chế ngự, khắc phục ráo riết trên đường tu Phạm hạnh , không dùng dao gậy gia hại sinh linh, thì chính người ấy là Bà-la-môn, là Sa-môn, là Tỳ-kheo vậy.

Chú giải chi tiết

Phật nói pháp cú nầy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến quan đại thần Santati. Theo truyện tích, do lòng trung thành, sau khi dẹp giặc xong trở về, ông được vua Ba tư Nặc cho ông ta làm vua nhiếp chánh cai trị trong vòng bảy ngày. Trong thời gian ngắn ngủi nầy, Santati không màng đến việc nhiếp chánh mà chỉ một bề vui chơi hưởng lạc thỏa thích. Trên đường du ngoạn hành lạc cùng với các cung phi, ông gặp Đức Phật, nhưng ông không để ý đến. Đức Phật biết ông không bao lâu nữa sẽ chứng quả A la hán. Đức Phật nói với Ngài A Nan, nhưng các Tỳ kheo khác không tin và bất bình cho rằng, một kẻ đang trụy lạc thỏa thích như thế làm gì đắc quả A la hán? Chứng quả A la hán đâu phải là chuyện dễ dàng mà sao Đức Thế Tôn lại nói như thế. Dù bất bình không tin, nhưng họ không nói ra. Song, quả thật, ông nầy, vì một nàng cung phi mà ông yêu thương nhất, trong khi đang vui chơi lại ngả bệnh và chết ngay tức khắc. Buồn quá, ông đến đức Phật và được đức Phật nói pháp cho ông nghe. Nghe xong, ông liền tỉnh ngộ và chứng quả A la hán. Sau đó, Phật bảo ông thuật lại chuyện tiền kiếp của ông cho mọi người nghe. Vâng lời Phật dạy, ông kể hết mọi việc… Và cũng nhân đó, Phật mới nói pháp cú nầy. Xưa nay, là con người không ai lại không ham địa vị chức tước quyền cao và cũng không ai lại không thích thụ hưởng những khoái lạc thỏa mãn dục tính. Đó là bản chất cố hữu của con người phàm tục. Tuy nhiên, thú vui chỉ mở đường cho đau khổ. Cờ bạc, rượu chè, hút xách, đĩ điếm, dâm ô v.v… Đó là những thú vui hành lạc. Nhưng trong khi hưởng lạc, người ta lại quên rằng, vui đó rồi khổ đó. Khi vui chơi ít ai nghĩ đến đau khổ. Đời là tương đối, hễ có vui là có khổ. Vì trong khi vui sướng đã nẩy mầm khổ đau trong đó rồi. Cũng như trong hội ngộ đã ngầm chứa mầm chia ly. Phật dạy, người Phật tử phải có cái nhìn như thế. Đó là cái nhìn của một con người có tuệ giác sắc bén. Nhưng có điều, nhơn vô hoạn họa bất hồi đầu. Nếu ở đời, chỉ có một con đường vui sướng không, không có khổ, thì chắc chắn không ai nghĩ đến chuyện tu hành. Santati nhờ lòng trung thành, nên ông được phần thưởng đích đáng do vua Ba tư Nặc ban cho. Được thay quyền vua, lòng ông vô cùng phấn khởi, dành hết thời gian để hưởng lạc. Vì thời gian quá ngắn ngủi, chỉ có bảy ngày. Nhưng ông quên rằng, cuộc vui hưởng lạc nào rồi cũng tàn. Đối với ông, cuộc vui chưa tàn thì tai họa lại xảy đến. Nhờ cái chết của nàng cung phi mà ông đã hết lòng yêu thương sủng ái, nên đã thức tỉnh ông để ông đến gặp đức Phật. Và nhờ nghe Phật thuyết giảng xoáy mạnh vào bản chất sinh diệt vô thường của con người, nên ông được tỉnh ngộ và đắc quả A la hán. Như thế, trong niềm đau cùng cực, người ta lại tỉnh ngộ rất nhanh. Đúng là trong họa có phước và trong phước có họa. Nhưng, ở đây ông Santati đã khéo chuyển họa thành phước. Ở đời, người ta thường nói sau cơn mưa trời lại nắng, hay cực dương lại sanh âm. Chớ nếu mưa hoài thì cũng chết mà nắng hạn hoài thì cũng tiêu ma. Còn sống trong vòng tương đối là như thế. Nhơn cùng thì phải tắc biến, mà có biến thì mới tắc thông vậy. Nghiêm giữ thân tâm tịch tịnh, đây là Phật minh định rõ con đường dẫn đến an lạc hạnh phúc cho người Phật tử hành trì. Hành trì điều gì ? Tức nghiêm trì giới luật. Có nghiêm trì giới luật Phật cấm, thì người Phật tử mới có được đời sống tự do giải thoát. “Chế ngự khắc phục ráo riết, thường tu phạm hạnh”. Cụm từ nầy, đã nói lên cái cốt tủy của Phật giáo. Chế ngự khắc phục có khác gì là “phản quan tự kỷ”. Mà phản quan tự kỷ là cốt lõi của người tu. Có nhìn lại mình, mới thấy được cái gốc rễ lỗi lầm của mình để mà thanh lọc chuyển hóa. Ngày xưa, khi còn là thái tử, vua Trần Nhân Tôn đã được Tuệ Trung Thượng Sĩ khai hóa bằng một câu nói ngắn gọn súc tích nầy: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”. Hằng xem xét lại mình đó là phận sự gốc của người tu, đừng để tâm chạy theo ngoại cảnh. Có thể nói, qua câu nói đó, đã tóm thâu hết yếu lý của hành giả tu Thiền hay tu bất cứ pháp môn nào khác. Qua câu nói đó, vua Trần Nhân Tôn đã lãnh hội được yếu chỉ tu Thiền. Và cũng chính nhờ câu nói đó, mà về sau nhà vua đã trở thành một vị sơ tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đó là câu chuyện đã xảy ra vào đời nhà Trần ở Việt Nam. Còn ở Trung Hoa thì sao? Xưa kia, chính Ngài Thần Hội cũng nhờ đức Lục Tổ Huệ Năng khai hóa một câu nói: “Ta thấy là thấy lỗi mình, còn không thấy là không thấy lỗi người”. Một câu nói tuy ngắn gọn, nhưng nó có một tác dụng xoáy mạnh vào tâm trí của Sa Di Thần Hội. Và từ đó, câu nói ấy luôn luôn hun đúc tưới tẩm một con người về sau trở thành vị Tổ sư Thiền Tông nối thạnh dòng Thiền Tào Khê bất diệt. Đó là câu chuyện xảy ra vào đời Đường Trung Hoa. Tuy không gian và thời gian có sai khác, nhưng tinh thần giác ngộ vẫn như nhau. Phạm hạnh là thanh tịnh. Là Sa môn hay Tỳ kheo hạnh tu của các ngài là đoạn dục khử ái, nhận rõ nguồn tâm. Có xa lìa ái dục, thì tâm mới trong sáng và thanh tịnh. Chuyển hóa thân tâm, không hẳn chỉ dành riêng cho các vị xuất gia, mà cư sĩ tại gia, nếu có quyết tâm tu hành, thì cũng đạt được thánh quả. Điều nầy, trong lịch sử thời Phật cũng như trải qua các thời đại sau nầy, đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó. Có biết bao cư sĩ tại gia tu hành đạt được giải thoát. Trong Tịnh Độ Tông, có rất nhiều cư sĩ nam nữ niệm Phật được vãng sanh Cực Lạc. Về Thiền tông, thì đời Trần, có vua Trần Thái Tông và Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đạt ngộ lý Thiền và có một đời sống xuất cách tự tại giải thoát, khó ai có thể sánh kịp. Ngoài ra, còn nhiều người tu tại gia mà bản thân họ đã đạt được an lạc hạnh phúc khá cao. Thế nên, luận về việc tu hành, chuyển hóa vô minh phiền não, thì không luận là tại gia hay xuất gia, nếu ai có nỗ lực quyết chí tu hành, đều có thể đạt được thành quả tốt đẹp cả. Một người tu hành, dù tại gia hay xuất gia, chỉ biết một bề mưu cầu lợi lạc hạnh phúc cho riêng mình, mà không nghĩ đến hạnh phúc của kẻ khác, thì chưa phải xứng danh là người Phật tử. Giết hại sanh linh, gây đau khổ tổn thương đến sanh mạng của những loài khác, đó là điều cấm kỵ mà Phật thường khuyến nhắc người Phật tử không nên hành động sát hại. Mình biết bảo vệ hạnh phúc cho mình, thì người khác hay loài khác cũng muốn bảo vệ hạnh phúc của chúng. Hiểu và thương như thế, thì trong đời sống hằng ngày, ta không nên gây tổn hại cho bất cứ ai. Đó là phương cách sống hay nhất mà Phật thường khuyến khích người Phật tử nên có tấm lòng rộng lượng vị tha hòa ái và nên yêu thương tất cả muôn loài.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 142 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?