En el camino del cielo no se dejan rastros. No es por el aspecto exterior que se pueda juzgar a un santo. Nada en el mundo es eterno. Pero los Budhas permanecen en la Eternidad. Decimoctavo Capítulo titulado: La impureza  1 Los Budhas. EL JUSTO
No hay ningún rastro en el cielo ni ningún recluso afuera (la dispensación del Buda). No hay cosas condicionadas que sean eternas ni inestabilidad en los Budas. Lược giảng “Câu chuyện xảy ra, liên quan đến du sĩ Tu bạt đà la (Subhadda). Khi đức Thế tôn sắp nhập diệt, trong rừng Sa la trong thành Câu thi. Chuyện kể rằng, khi trước con của Tu bạt đã cúng dường chín lần những phẩm vật đầu mùa gặt cho đức Phật, còn Tu bạt thì không ưng y từ chối, cuối cùng mới chịu cúng. Vì thế ông không gặp Thế Tôn lúc Ngài vừa thành đạo y giảng đạo. Đến lúc cuối, Ngài gần nhập diệt, ông mới tự nghĩ: “Ta có ba điều nghi. Và đã hỏi các Trưởng lão để giải nghi. Lúc ấy Sa môn Cồ đàm còn trẻ nên ta không đến hỏi. Bây giờ thời gian Niết bàn sắp đến, nếu ta không hỏi, sau sẽ ân hận.” Ông đi đến chỗ Phật. Tôn giả A nan ngăn ông lại, nhưng Phật đã bảo: -A nan, chớ ngăn Tu bạt đà la, hãy để ông vào thưa hỏi. Tu bạt vào, ngồi ở chân giường và hỏi Phật: -Bạch Ngài, có con đường nào trên không trung? Có người nào được gọi Sa môn khi ở ngoài chánh đạo? ¿Páp hữu vi có trường tồn? Phật dạy ông những việc ấy không thể có, y nhân đó Ngài nói hai pháp cú này ». (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 81) Hai pháp cú trên, Phật nêu ra ba vấn đề xác minh rất rõ. Thứ nhứt, Phật nói: “giữa hư không thì làm gì có dấu vết”. Đây là Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt mà ông Tu bạt đã nêu ra. Giữa bầu trời trong tạnh, một đàn chim bay qua, chúng không để lại một dấu vết gì cả. Bầu trời không có ý lưu lại hình ảnh của chúng. Và chúng cũng không có ý muốn lưu lại hình ảnh của chúng khi bay ngang qua bầu trời. Mà dẫu có muốn để lại cũng không được. Đây là một hình ảnh thật giải thoát. Chim nhạn qua dòng nước Chẳng lưu lại vết hình Nước vô tâm in bóng Nhạn vô ý lưu hình. & Biển ngàn in trăng bóng Duy nhất một vầng trăng Tùy vọng thấy sai khác Nào trăng có đổi thay. & Trời xanh én lượn êm đềm Ngàn sao lấp lánh vẫn yên bầu trời Thuyền chèo bạt nước mù khơi Trở về bến cũ thảnh Thơi an nhàn. Bầu trời là dụ cho người tu đã đạt được quả vị Niết bàn. Vì Niết bàn là vô sanh. Vô sanh là không còn một dấu vết phiền não. Phiền não có ra là do có vọng tưởng. Mà còn vọng tưởng là còn có sanh diệt. Hết vọng tưởng thì hết sanh diệt. Đến đây, là tịch diệt, là Niết bàn an lạc. Niết bàn ở đây là Phật ngầm chỉ cho Niết bàn của hàng A la hán. Vì A la hán đã dứt hết phiền não “Kiến, Tư” hoặc. Nên trong kinh thường nói các Ngài này là việc lợi mình đã xong. Đã xong việc lợi mình, nhưng còn việc lợi người, thì các Ngài rất ngao ngán, không dám hóa độ. Do đó, nên các Ngài bị Phật quở: “trầm không trệ tịch hay khôi thân diệt trí”. Sự khác biệt giữa Thanh Văn y Bồ tát là ở chỗ bản nguyện độ sanh. Nhưng phải đến quả vị Phật thì việc tự lợi, lợi tha mới hoàn toàn viên mãn, nên gọi Phật là giác hạnh viên mãn. Thứ hai, Phật nói: “trong ngoại đạo làm gì có Sa môn”. Sa môn (Samano) chỉ cho những vị đã chứng ngộ bốn thánh quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm y A la hán. Trong bốn thánh quả này, ngoại trừ quả vị A la hán ra, còn lại ba quả vị trước là các Ngài đang tu tập hướng tiến đến quả vị Niết bàn A la hán. Sở dĩ Phật nói bốn quả vị này khác với ngoại đạo là vì những vị này nhân nghe Phật nói pháp Tứ đế, mà các Ngài y Cứ vào đó nỗ lực tiến tu diệt trừ hết tập nhân phiền não, nên các Ngài đạt được quả vị Niết bàn. Trong khi đó, ngoại đạo, họ không xoay lại để diệt trừ tập nhân phiền não, mà họ chỉ một bề hướng ngoại tìm cầu, nên họ không thể chấm dứt đường sanh tử khổ đau. Dù cho họ có đủ lực dụng thần thông, nhưng đó chỉ là thứ thần thông do họ công phu luyện tập mà có. Noi tóm lại, họ là người tu chạy theo cái ngọn, hướng ngoại tìm cầu, mà không căn cứ vào cái gốc là quán sát nội tâm để No hay problema. Do đó, nên gọi họ là ngoại đạo. Nghĩa là ngoài tâm cầu đạo đều gọi chung là ngoại đạo. Sự khác biệt giữa ngoại đạo y Sa môn, (tức những người tu theo đạo giải thoát sanh tử khổ đau) là ở chỗ đó. Thứ ba, Phật nói: “chúng sanh thì thích điều hư vọng, mà Như Lai làm gì còn hư vọng”. Ta nên chú ý ở câu chót này (tạm gọi) giữa pháp cú 254 y 255 có hơi khác. Pháp cú 255, Phật nói: “Năm uẩn thì không thường trú, mà Như Lai thì chẳng loạn động bao giờ”. Câu trên (254) Phật nói rõ, chúng sanh thì thích điều hư vọng, mà Như Lai làm gì còn hư vọng. Hư vọng là giả dối không thật. Là không phù hợp với chân lý. Phật nói, chúng ta là những người thích sống chạy theo giả dối. Dùng mọi thứ giả dối để khuynh loát lừa gạt lẫn nhau để sống. Người nào khôn khéo biết cách xử dụng nhiều thứ giả dối che mắt người đời, thì người ta gọi những người đó là tài giỏi. Còn người nào không khéo lừa bịp che mắt thiên hạ hay nói năng những lời chân thật phù hợp với chân lý, thì bị người ta cho đó là quê mùa vụng về. Vì họ không có tài xảo thuật mánh khóe lừa bịp. Lời thật bao giờ cũng trái tai người nghe. Cứ thế, mà người ta đua nhau tranh tài dùng mọi mánh khóe thủ thuật để nói dối. Càng nói dối gạt gẫm thiên hạ nhiều chừng nào, thì sẽ được mọi người tán dương y có lợi nhiều chừng đó. Thế thì, đời sống của chúng ta, nếu đem giáo Pháp Phật dạy ra mà quán chiếu thật kỹ, thì than ôi! tất cả chúng ta toàn là những người sống giả dối. Mọi vật đều giả dối. Nhưng vì lòng si mê chấp “ngã, pháp” quá nặng, nên đối với chúng ta cái gì cũng cho là thật hết. Không ai biết mình đang sống trong giả dối. Cái thân tạm bợ không thật, hay xấu xí giống như ma trơi, nhưng phải nói là cái thân này sống lâu và đẹp đẽ. Còn nói thân này giả dối, không sạch giống như cầu xí, thì người ta cho kẻ đó nói khùng điên. ¿Nhưng có phải thật sự là khùng điên hay không? ¿Hay algo que no se puede hacer? Chắc ai cũng nói kẻ mà nói thật, nói thẳng, vì không khéo chiều được lòng thiên hạ, thì quả kẻ đó là khùng điên rồi. Vấn đề này, xin để mỗi người hãy bình tâm suy xét y mỗi người tự tìm cho mình một kết luận thích đáng. Ngược lại, Phật nói Như Lai làm gì còn hư vọng. Như Lai là nghĩa bất sanh bất diệt, vượt ngoài đối đãi nhị nguyên, thế thì còn nói cái gì là vọng hay không vọng. Càng nói càng sai lầm. Xin đừng vẽ rắn thêm chưn, hay đầu lại thêm đầu. Những lời nói chỉ là hư vọng làm sao nói đến chỗ chân thật cho được. Đến chỗ tuyệt đối, thì ngôn ngữ hoàn toàn bất lực đầu hàng. Như Lai là Như Lai. ¡Chỉ có thế thôi! Pháp cú 255, Phật nói năm uẩn thì không thường trú, mà Như Lai thì chẳng loạn động bao giờ. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những thứ này cũng do nhân duyên giả hợp mà có, bản thân nó là giả dối không thật. Vì chúng chỉ là những hiện tượng trên bề mặt của ý thức. Chỉ là những lượn sóng nổi lô nhô trên mặt biển phẳng lặng. Sóng thì khi có, khi không, nên nói chúng không thường trú. Chúng là những pháp hữu vi. No hay nada que hacer sobre el bao giờ. ¿Như lai làm gì có loạn động? Mặt biển là mặt biển. Mặt biển không động, không loạn. Loạn động là sóng chớ không phải mặt biển. Nhưng rời mặt biển thì không có canción. Cũng thế, mọi hiện tượng tâm lý dấy khởi không rời bản tâm. Nhưng bảo toàn sóng chính là mặt biển là sai. Vì sóng và mặt biển tuy hai nhưng không phải hai. Vì ly khai mặt biển thì không có canción. Vọng và chơn cũng thế. Lìa chúng sanh thì không có Như Lai. Lìa vọng thì không có chơn. Phiền não không rời bồ đề mà có. Nhưng chớ nhận lầm phiền não là bồ đề. Xin chớ nhận lầm nước đục là nước trong. Nhưng muốn có nước trong, cần phải lóng lặng hết cặn bã nhơ đục. Muốn có bồ đề, phải dứt hết phiền não. Đó là nghĩa Như Lai không phải là chúng sanh. Lìa vọng không chơn, lìa chơn không có vọng. Đây là pháp môn Bất Nhị. Noi một là sai mà nói hai thì không đúng. Như vậy cái gì có sanh có diệt đều là những hiện tượng giả dối, không thật. Còn cái gì không sanh không diệt, thì cái đó mới chân thật thường còn. Xin mọi người hãy lặng sâu để sống cho được cái chân thật thường còn này. Vì đó mới đích thực là con người thật của chúng ta. Còn sống tranh đua hơn thua với con người giả dối này, thì than ôi ! chúng ta sẽ còn khổ đau tiếp nối dài dài và không biết ngày nào mới được thoát ra! XIX. PHẨM PHÁP TRỤ (Dhammatthavaggo)

Comentario profundo

Esta historia está relacionada con el vagabundo Subhadda, cuando el Honrado por Todo el Mundo estaba a punto de entrar en parinibbana en el bosque de Sala en la ciudad de Kusinara. Se dice que antes, el hijo de Subhadda había ofrecido al Buda nueve veces los primeros frutos de la cosecha, pero el propio Subhadda no estaba dispuesto y se negó, finalmente accedió a ofrecerlos. Debido a esto, no conoció al Honrado por el Mundo cuando alcanzó la iluminación por primera vez y enseñó el Dharma. Al final, cuando el Buda estaba a punto de entrar en parinibbana, Subhadda pensó para sí: "Tengo tres dudas. Les he pedido a los mayores que los resuelvan. En ese momento, el asceta Gotama aún era joven, así que no fui a preguntarle. Ahora se acerca el momento de su Nibbana; si no se lo pregunto, me arrepentiré más tarde." Se dirigió hacia donde estaba el Buda. El Venerable Ananda intentó detenerlo, pero el Buda dijo: "Ananda, no detengas a Subhadda; déjalo entrar y preguntar". Subhadda entró, se sentó a los pies de la cama y preguntó al Buda: "Venerable Señor, ¿hay algún camino en el cielo? ¿Hay alguien llamado recluso fuera del verdadero camino? ¿Pueden las cosas condicionadas ser eternas?" El Buda le enseñó que estas cosas son imposibles, y en esa ocasión pronunció estos dos versos. En estos dos versos, el Buda aclaró claramente tres cuestiones. Primero dijo: "No hay ninguna huella en el cielo". Esto responde a la primera pregunta de Subhadda. En el cielo despejado, una bandada de pájaros pasa volando sin dejar rastro. El cielo no tiene intención de conservar su imagen, ni los pájaros pretenden dejar imagen. Aunque quisieran, no podrían. Esta es una imagen verdaderamente liberadora. El cielo es una metáfora de quien ha alcanzado el Nibbana. Nibbana no ha nacido. Ser no nacido significa que no queda rastro de impurezas. Las impurezas surgen de pensamientos ilusorios. Donde hay pensamientos ilusorios, hay nacimiento y muerte. Cuando cesan los pensamientos engañosos, cesan el nacimiento y la muerte. Esa es la extinción pacífica, la bienaventuranza del Nibbana. Aquí, el Buda se refiere implícitamente al Nibbana de los arahants, quienes han erradicado todas las impurezas de la visión y la pasión. Por eso las Escrituras dicen que han completado su propio bienestar. Habiendo completado su propio bienestar, son reacios a ocuparse del bienestar de los demás y no se atreven a enseñar. Por lo tanto, el Buda los criticó por "hundirse en el vacío, apegarse a la quietud o destruir sus cuerpos y aniquilar su sabiduría". La diferencia entre un discípulo (sravaka) y un bodhisattva radica en el voto original de salvar seres. Sólo en la etapa de Budeidad se perfeccionan plenamente tanto el beneficio propio como el beneficio de los demás, de ahí que al Buda se le llame el Perfectamente Iluminado. En segundo lugar, el Buda dijo: "No hay ningún recluso fuera (la dispensación del Buda)". Un recluso (samana) se refiere a alguien que ha realizado las cuatro etapas de la santidad: el que entra en la corriente, el que regresa una vez, el que no regresa y el arahant. A excepción del arahant, los tres primeros todavía están entrenando para alcanzar el arahant Nibbana. La razón por la que el Buda dijo que estos cuatro son diferentes de los no budistas es que ellos, habiendo escuchado las enseñanzas de las Cuatro Nobles Verdades, se esfuerzan por erradicar las causas acumuladas de impurezas y así alcanzar el Nibbana. Los no budistas, por otra parte, no se vuelven hacia adentro para erradicar las causas acumuladas de impurezas, sino que sólo buscan hacia afuera; por lo tanto, no pueden poner fin al sufrimiento del nacimiento y la muerte. Incluso si poseen poderes psíquicos, esos poderes se adquieren mediante entrenamiento. En resumen, persiguen las ramas en lugar de la raíz, buscando hacia afuera sin observar la mente para eliminar las impurezas. De ahí que se les llame forasteros (no budistas), lo que significa que todos aquellos que buscan el camino fuera de la mente se denominan colectivamente forasteros. Ésa es la diferencia entre los forasteros y los reclusos (aquellos que practican el camino de la liberación del sufrimiento y la muerte). En tercer lugar, el Buda dijo: "La humanidad se deleita en la mundanalidad, pero los Budas están libres de la mundanalidad". Tenga en cuenta que la frase final del versículo 255 es ligeramente diferente: "No hay cosas condicionadas que sean eternas, ni inestabilidad en los Budas". En el verso 254, el Buda dijo claramente que los seres se deleitan en la falsedad, pero el Tathagata no tiene falsedad. La falsedad es engaño, irrealidad, no conforme con la verdad. El Buda dijo que somos personas que nos deleitamos en perseguir la falsedad, utilizando todo tipo de engaños para engañarnos unos a otros y sobrevivir. Aquellos que hábilmente usan muchos engaños para cegar a otros se les llama inteligentes. Aquellos que no son expertos en engañar, o que dicen palabras veraces y acordes con la realidad, son considerados rústicos y torpes porque carecen del arte del engaño. Las palabras sinceras siempre son desagradables de escuchar. Así, la gente compite para utilizar todos los trucos y técnicas para mentir. Cuanto más mienten y engañan, más se les elogia y más se benefician. Por lo tanto, si reflexionamos cuidadosamente sobre nuestras vidas a la luz de las enseñanzas del Buda, ¡ay! todos vivimos en el engaño. Todo es falso. Pero debido a nuestra profunda ignorancia y apego a nosotros mismos y a los fenómenos, tomamos todo como real. Nadie sabe que están viviendo en la mentira. Este cuerpo temporal es irreal, feo como un fuego fatuo, pero decimos que dura mucho y que es hermoso. Si uno dice que este cuerpo es falso, impuro como un retrete, la gente lo llama loco. ¿Pero está realmente enojado? ¿O son aquellos que encubren, que no se atreven a hablar directamente y afrontar la verdad de la vida, los verdaderos locos? Seguramente todo el mundo diría que aquel que habla sincera y directamente, porque no puede complacer hábilmente a la gente, está realmente loco. Dejemos que cada uno considere esto con calma y saque su propia conclusión. Por el contrario, el Buda dijo que el Tathagata no tiene falsedad. El Tathagata es el significado de lo no nacido y lo inmortal, más allá de la oposición dualista. Entonces, ¿qué se puede llamar falso o no falso? Cuanto más se habla, más se equivoca. No le dibujes patas a una serpiente ni le agregues una cabeza a otra. Las palabras son simplemente falsas; ¿Cómo pueden llegar a la verdad? En el nivel absoluto, el lenguaje es completamente impotente y se rinde. El Tathagata es simplemente el Tathagata. Eso es todo. En el verso 255, el Buda dijo que los cinco agregados no son eternos y que el Tathagata nunca está agitado. Los cinco agregados son forma, sentimiento, percepción, formaciones mentales y conciencia. Estas cosas surgen mediante combinación condicional; su naturaleza es falsa e irreal. Son meramente fenómenos superficiales de la conciencia, como olas que se elevan en un océano en calma. Las olas aparecen y desaparecen, por eso no son eternas. Son cosas condicionadas. Pero el océano nunca desaparece. ¿Cómo podría agitarse el Tathagata? El océano es el océano. No se mueve, no se agita. La agitación pertenece a las olas, no al océano. Sin embargo, aparte del océano, no hay olas. Asimismo, todos los fenómenos mentales surgen sin salir de la mente original. Pero decir que las olas son enteramente océano es incorrecto. Las olas y el océano son dos, pero no dos, porque fuera del océano no hay olas. El engaño y la verdad son lo mismo. Aparte de los seres sintientes, no hay Tathagata. Aparte del engaño, no hay verdad. Las impurezas no surgen sin bodhi. Pero no confundas las impurezas con la bodhi. No confunda agua turbia con agua clara. Para tener agua clara hay que sedimentar y eliminar todos los sedimentos. Para tener bodhi, uno debe erradicar todas las impurezas. Esto significa que el Tathagata no es un ser sintiente. Aparte del engaño, no hay verdad; Aparte de la verdad, no hay engaño. Ésta es la puerta de la no dualidad. Decir que uno está mal, decir dos no es correcto. Así, todo lo que tiene nacimiento y muerte es un fenómeno falso e irreal. Lo que no nace y es inmortal es verdaderamente eterno. Que todos moren profundamente en la quietud para vivir esta verdadera realidad eterna. Porque ese es nuestro verdadero yo. Si continuamos compitiendo y luchando con este falso yo, ¡ay! Sufriremos sin cesar, sin saber cuándo escaparemos. Capítulo XIX: Lo Establecido en el Dhamma (Dhammatthavagga).

🌿

Asistente IA Zen

En línea

Bienvenido. Soy su compañero Zen IA, para ayudarle a reflexionar sobre el Versículo 255. ¿Tiene alguna pregunta o desea profundizar en su significado?