Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật dạy tại tinh xá Trúc Lâm, có liên quan đến Tỳ kheo ni Dhammadinna. Theo truyện tích, Tỳ kheo ni dhammadinna khi chưa xuất gia có người chồng tên là Visakha. Ông là một Phật tử thuần thành. Sau khi nghe Phật giảng pháp, ông đắc quả A na hàm. Một hôm, ông tỏ ra khác thường hơn mọi khi. Ông không để ý gì đến bà vợ cả. Ông dùng bữa trong yên lặng, thay vì mời bà dùng bữa như trước kia. Bà vợ rất ngạc nhiên. Bà thầm nghĩ, không lẽ ông ta giận mình. Bà tự xét mình không có lầm lỗi điều gì. Dùng cơm xong, ông nói: nầy bà! tất cả tài sản của cải trong nhà nay tôi giao hết cho bà. Bà hãy gìn giữ lấy. Nghe thế, bà lại càng ngạc nhiên hơn! Tuy nhiên, bà cũng hỏi lại: còn ông thì sao? Ông nói: kể từ nay trở đi, tôi không dính dáng gì đến chuyện thế tục nữa. Bà nói: tôi cũng không hốt ba thứ đàm dãi mà ông đã nhổ ra. Vậy, ông cho tôi xuất gia làm Tỳ kheo ni. Ông chấp nhận ngay. Thế là bà được toại nguyện trở thành Tỳ kheo ni. Tu hành không bao lâu, bà chứng quả A la hán. Và sau đó, bà độ cho ông cũng được giải thoát. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện). Cách hành xử của cặp vợ chồng nầy thật hiếm có trên đời. Tuy là một cư sĩ, nhưng ông Visakha đã tu và chứng quả A na hàm. Đây lá quả vị thứ ba trong tứ quả Thanh Văn. Người chứng quả vị nầy, tuy chưa hết sạch phiền não như quả vị A la hán, nhưng đã diệt trừ hết phiền não thô trọng. Sự tu hành, làm sao chúng ta có thể quyết đoán trên hình thức. Vấn đề tu chứng của mỗi người, thật khó biết được, như người uống nước lạnh nóng tự biết. Có những người nhìn bề ngoài, thấy họ dường như không biết tu hành gì, nhưng mà bên trong họ tu rất kỹ lưỡng. Một niệm dấy lên là họ nhận ra ngay. Những phiền não trong tâm họ vừa khởi lên, họ đều nhận diện ngay. Như vậy, ai có thể biết được họ đang an lạc giải thoát. Ngoại trừ chư Phật và Bồ tát. Cụ thể nhứt là tự họ biết rõ họ. Người tu thật hay tu giả tự mình biết lấy mình. Và mình cũng biết rõ, hiện mình đang ở đâu và tương lai sẽ về đâu. Đó là điều khẳng định không nghi ngờ. Vì không ai biết rõ bằng mình biết mình. Điều kỳ thú hơn nữa, là sau khi lãnh hội giáo pháp, yếu chỉ tu hành, ông liền giao hết tài sản của cải cho bà. Ông không còn dính mắc gì đến tài sản nữa. Đó là điều nếu không phải là người đạt đạo, thì không phải dễ làm. Tiền tài của cải có mấy ai không ham muốn. Người nào cũng muốn chiếm hữu lợi lộc về mình cho nhiều. Không có một ai muốn nhả ra cho người khác hưởng, dù đó người là người thân nhứt của mình. Đối lại, bà vợ cũng không phải tay vửa. Một câu nói của bà, nếu không phải là người tu khá, thì làm sao thốt ra được như thế:“Tôi không hốt ba thứ đàm dãi mà ông nhổ ra”. Tài sản của cải, bà coi nó như là đàm dãi. Như vậy, đủ chứng minh tâm bà đã an lạc giải thoát đến mức độ nào. Một câu nói đáng cho chúng ta vô cùng kinh ngạc kính phục. Cuối cùng, bà đã xuất gia. Nhờ nỗ lực tinh tấn tu hành, không bao lâu bà chứng quả A la hán. Và rồi bà trở lại độ cho ông cũng được giải thoát như bà. Pháp cú trên, chúng ta nên chú ý Phật dạy: “Đối với pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, người kia chẳng có một vật chi”. Qua lời dạy nầy, chúng ta nhớ lại trong kinh Kim Cang Bát Nhã, Phật nói cũng có câu tương tự như thế. Nghĩa là Phật nói về ba thời tìm tâm không có. Tâm có đó là tâm vọng. Còn tâm chơn làm sao tìm thấy. Vì khi tâm vọng dấy khởi là có tướng trạng hình ảnh của sáu trần. Cái tướng trạng đó dù là rất vi tế, nhưng thực chất của nó vốn không. Vì cái tâm vọng tưởng đó là do duyên cảnh mà có. Không, là không có cái tâm vọng tưởng điên đảo, chớ không phải là không có cái tâm chơn thật. Xin chớ có lầm lẫn ngộ nhận điều nầy. Cái gốc khởi ra là giả, thì vật thể do tâm nương gá đặt định giả lập làm gì có thật. Thời gian đã không, không gian dời đổi, không có thứ gì tồn tại. Nói gọn là tất cả đều KHÔNG, tức tánh không của muôn pháp. Ngộ được tánh không nầy, thì gọi là đạt đạo. Không ở đây là không có phiển não, chớ không phải không trơn như lông rùa sừng thỏ. Câu kế tiếp Phật nói: “Người không chấp đắm một vật chi ấy, gọi là Bà la môn”. Không chấp vật chi là buông xả mọi thứ. Không phải buông cảnh vật bên ngoài không thôi mà buông ở đây là Phật nói phải buông những phiền não rối rắm trong tâm ta. Vì có buông xả như thế, thì cái bản tâm mới an nhiên tự tại giải thoát.
Thiền sư AI
Trực tuyến