Tỷ kheo trú Từ Bi, Tín thành giáo Pháp Phật, Chứng cảnh giới tịch tỉnh. Các hạnh an tịnh lạc.
Hàng Tỳ kheo an trú trong tâm từ bi, vui thích giáo pháp Phật đà, sẽ đạt đến cảnh giới tịch tịnh an lạc, giải thoát các hành (vô thường).

Chú giải chi tiết

Chín pháp cú trên, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến một nhóm lớn Tỳ kheo. Theo truyện tích, tại thành phố Kuraraghara thuộc nước Avanti, có vị Thượng Tọa Kaccana đang ẩn tu trên một ngọn núi gần thành phố. Bấy giờ, có một thanh niên Phật tử tên là Sona Kutikanna, sau khi học hỏi thấm nhuần giáo lý, chàng ta xin xuất gia với Ngài. Ngài hai lần từ chối. Dù biết đời sống xuất gia có nhiều khó khăn, nhưng chàng trai Sona quyết không nản chí cầu xin xuất gia cho kỳ được. Xin lần thứ ba, Sona được chấp nhận và gia nhập Tăng đoàn. Sau ba năm ở miền nam, thầy trở về Kỳ Viên để gặp Phật. Đến nơi, thầy được đức Phật đón tiếp thân mật và cho thầy vào hương thất của Ngài. Suốt đêm hôm ấy, thầy Sona thiền hành ngoài trời, đến gần sáng thầy mới vào trong hương thất nằm nghỉ một chút. Đức Phật bảo thầy tụng bài kinh “Mười sáu đoạn”. Tụng xong, Phật và Thiên long bát bộ đều tán thán ngợi khen thầy. Lúc ấy, có một vị thần ở trong nhà bà mẹ của thầy, cũng tán thán ca ngợi thầy. Bà mẹ thầy ngạc nhiên, hỏi ra mới biết vị thần đó ca ngợi con trai của bà. Vị thần đó còn nói, không phải riêng tôi ngợi khen mà đức Phật và chư thiên long tất cả cũng đều ngợi khen Tôn giả như thế. Nhờ vị thần đó nói, nên bà mới biết rõ là con của bà đã tụng kinh cho Phật nghe. Và bà nghĩ, sau nầy, khi con trai của bà trở về nhà, thì bà sẽ yêu cầu giảng giáo lý cho bà nghe. Sau thời gian cận kề hầu Phật, thầy Sona trở về gặp lại vị sư phụ. Hôm sau, thầy cùng sư phụ đến trước nhà thân mẫu khất thực. Thấy con bà rất vui mừng, hỏi han, săn sóc chu đáo và bà thuật lại mọi việc liên quan đến thầy khi thầy còn hầu cận bên Phật ở hương thất. Thầy Sona rất ngạc nhiên và hỏi duyên do. Bà mẹ cho biết, tất cả đều do thần nhân mách lại. Đồng thời bà thỉnh Tôn giả Sona thuyết pháp cho bà nghe. Tôn giả nhận lời. Lúc ấy, có một đảng cướp đông đảo, bọn chúng định xông vào nhà bà. Nhưng chung quanh nhà có những bức tường bao bọc rất kiên cố và có chó dữ, nên bọn cướp không thể vào được. Đến ngày hẹn bà đi nghe pháp, bọn cướp thừa cơ hội đó liền đào địa đạo xuyên qua những chướng ngại vật và chúng vào được trong nhà. Bọn chúng cho người theo dõi khi bà trở về nhà quyết thủ tiêu bà. Để bảo đảm chắc ăn hơn, nên tên đầu đảng đích thân theo dõi vào giảng đường và hắn đứng bên cạnh bà. Trong khi đó, bọn cướp thắp đèn sáng lên và mở cửa kho tiền đồng. Người tớ gái trông thấy, liền chạy báo tin cho bà chủ biết. Nghe tin, bà vẫn thản nhiên tiếp tục nghe pháp, mặc cho bọn cướp muốn lấy bao nhiêu thì cứ lấy. Khi chúng lấy sạch kho tiền đồng, sang lấy tiếp kho bạc và rồi đến kho vàng, người tớ gái đến báo tin cho bà biết, bà cũng trả lời như trên và tiếp tục nghe giảng pháp. Chẳng những bà không chút bận tâm gì đến vàng bạc của cải, mà bà còn quở trách la rầy người tớ gái làm rộn tâm bà. Bà đuổi người tớ gái đi về. Tên tướng cướp đầu đảng đứng bên nghe thấy thế, liền thầm nghĩ: “Nếu chúng ta lấy tài sản của một người như bà nầy, trời Đế Thích sẽ đánh vỡ đầu chúng ta”. Nghĩ thế, hắn liền ra lệnh trả hết vào kho như cũ. Xong rồi, cả đồng bọn đều kéo đến nghe pháp. Sau thời pháp, tên đầu đảng và đồng bọn đều quỳ dưới chân bà xin lỗi. Đồng thời cả bọn xin được xuất gia theo Tôn giả vào Tăng đoàn. Tôn giả Sona nghe lời mẹ khuyên bảo, chấp nhận cho chúng xuất gia nhập Tăng đoàn. Đức Phật biết thế, liền hiện thân đến dạy cho họ những pháp cú trên. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện) Pháp cú 368, Phật dạy người xuất gia phải an trú trong tâm từ bi, vui thích giáo pháp Phật đà. Tâm từ bi là lòng thương rộng lớn trùm khắp tất cả. Muốn an trú (sự có mặt của tâm tỉnh thức an bình) trong tâm từ bi, chúng ta phải đi sâu vào thiền quán. Quán các pháp không có thực tánh. Chúng chỉ là những hiện tượng phơi bày qua lăng kính ảo giác của dòng tâm thức. Tất cả đều hệ thuộc vào lý duyên khởi hình thành. Sự có mặt của vạn pháp, cũng chính là sự có mặt của ta. Ta và muôn pháp không thể tách biệt thành đối tượng nhận thức. Vì đối tượng nhận thức chỉ nằm trên bình diện đối đãi nhị nguyên. Vượt lên khỏi mặt phẳng của nhị nguyên, hòa nhập cùng đại thể, chúng ta mới có được tâm thể từ bi rộng khắp. Còn dính mắc vào giả tướng, tất nhiên, là ta vẫn còn bị cột trói trong ảo giác khái niệm và như thế, ta sẽ không bao giờ có được tâm từ bi rộng khắp, vì ta còn nhận thức trong lăng kính chủ quan của nghiệp thức ái kiến. Như thế, thì tâm từ bi của chúng ta làm sao rộng độ khắp chúng sanh. Có mở rộng tâm từ bi làm lợi lạc chúng sanh, thì lòng ta mới thực sự an vui với chánh pháp. An vui với chánh pháp, đó là hạnh phúc, tịch tịnh, Niết bàn. Pháp cú 369, đức Phật nêu ra một thí dụ cụ thể về nước ngập trong thuyền. Nếu muốn chiếc thuyền không bị chìm đắm, tất nhiên, ta cần phải múc cho hết nước. Khi nước không còn, thì thuyền mới có thể đi nhanh được. Cũng thế, người tu nói chung, Tỳ kheo nói riêng, muốn đạt được Niết bàn an lạc, thì Phật bảo chúng ta phải mau gấp rút đoạn trừ tham dục và sân nhuế. Vì chúng chính là thủ phạm gây nên bao thứ ác nghiệp tội lỗi để nhận chìm chiếc thuyền đời của chúng ta trong biển đời đầy khổ đau hệ lụy. Một khi không còn những thứ căn bản phiền não nầy, thì đời ta mới được an lạc giải thoát. Pháp cú 370, Phật dạy: “Tỳ kheo phải đoạn năm điều, siêng tu năm điều, vượt khỏi năm điều say đắm. Được thế, mới có thể vượt qua khỏi dòng nước lũ”. Muốn hiểu rõ những điều nầy, trước tiên, ta cần nhớ lại mười món căn bản phiền não. Mười món căn bản phiền não, còn gọi là Thập kiết sử gồm có: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ. Kiết là trói buộc, sử là sai khiến, vì những thứ có khả năng trói buộc chúng sanh trong ba cõi và sai sử chúng sanh tạo nhiều nghiệp ác để chiêu cảm thọ khổ. Mười kiết sử nầy, người ta chia chúng ra làm hai loại: 1. Lợi sử: Là những món phiền não rất lanh lẹ nhạy bén dễ sanh khởi và cũng dễ đoạn trừ đó là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm thủ kiến. 2. Độn sử: Là những món phiền não chậm lụt đần độn, chúng có gốc rễ sâu dày và sanh khởi một cách ngấm ngầm sâu xa nhưng rất mãnh liệt thật khó đoạn trừ, đó là: Tham, sân, si, mạn, nghi. Năm điều Phật nói ở đây mà một vị Tỳ kheo cần phải đoạn đó là dứt năm kiết sử của hạ giới: Dục giới tham là sự tham muốn ở Dục giới. Sân là sự nóng giận khi gặp nghịch cảnh. Thân kiến là chấp thân ngũ uẩn giả hợp nầy làm ta. Giới cấm thủ là cố chấp các giới cấm tà vạy. Nghi là nghi ngờ không có lòng tin sâu vững chắc. Năm điều mà Tỳ kheo phải từ bỏ đó là năm điều kiết sử của thượng giới gồm có: Sắc giới tham là tham đắm vật chất ở cõi sắc. Vô sắc giới tham là tham đắm ở cõi Vô sắc. Trạo cử là loạn động, phóng dật. Mạn là cống cao ngã mạn. Vô minh là mê mờ. Còn nói tu năm điều đó là tu ở nơi năm căn lành, gồm có: Tín căn là lòng tin Tam bảo, nhân quả vững chắc mạnh mẽ. Tấn căn là tinh tấn dõng mãnh trên bước đường tu tập, không bao giờ thối lui. Niệm căn là ghi nhớ rõ ràng. Định căn là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp để suy đạt thật nghĩa của nó. Huệ căn là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân tướng của vạn pháp. Còn nói vượt khỏi năm điều say đắm đó là: tham, sân, si, mạn và ác kiến vậy. Pháp cú 371 và 372, Phật dạy chúng ta phải tu cả hai: thiền định và trí huệ. Đức Phật khuyến nhắc chúng ta chớ nên buông lung, và cũng chớ mê hoặc theo dục ái. Có thể nói, thiền định và trí huệ là hai yếu tố căn bản cốt lõi của đạo Phật. Dù hành giả tu bất cứ pháp môn nào, cũng phải có thiền định. Vì định có khả năng dừng mọi vọng tưởng. Theo Phật giáo Phát triển (Đại thừa) chủ trương, thì Định và Huệ không hai. Trong Pháp Bảo Đàn, đức lục Tổ Huệ Năng dạy: “giữa định và huệ không có trước sau”. Nghĩa là đồng thời đều có. Trong định có huệ, hay ngược lại cũng thế. Điều nầy, khác với Phật giáo Nguyên Thủy chủ trương: “nhân giới sanh định, nhân định phát huệ”. Như vậy, nhờ giữ giới luật nghiêm minh mà có định và nhờ có định lực mạnh nên phát sanh trí huệ, đó là định huệ có thứ lớp trước sau. Nhưng muốn có định, thì hành giả không thể để tâm buông lung chạy theo sáu trần mà có được. Tất nhiên là phải nhiếp tâm vào một đề mục thiền quán nào đó, tùy theo sự lựa chọn thích hợp của hành giả. Nhưng sự lựa chọn nào, mục đích nhắm tới cũng là muốn được định tâm. Kinh Di Giáo Phật dạy: “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện”. Nghĩa là nếu chúng ta chuyên tâm thiền quán vào một đề mục đối tượng nào đó, thì không việc gì chẳng xong. Tất nhiên là chúng ta sẽ đạt được kết quả rất cao. Cho nên, tu mà tâm không định, đó là tu sai, không phải tu theo Phật giáo. Nhưng xin nhớ rằng, định nói ở đây là dừng hết mọi vọng tưởng. Khi vọng tưởng lăng xăng lặng dừng rồi, thì con khỉ ý thức không còn cơ hội hoạt động thao túng chúng ta được nữa. Có định huệ là có Niết bàn an lạc, giải thoát. Và một khi tâm được định rồi, thì mọi ái dục không còn khả năng lôi kéo chúng ta đi vào con đường tội lỗi được nữa. Câu cuối của pháp cú 371, là đức Phật nhằm cảnh tỉnh răn nhắc chúng ta. Nếu tâm ta buông lung đắm mê theo dục lạc, thì cánh cửa địa ngục đang mở rộng chờ đón chúng ta. Đó là Phật nói: “Đừng đợi đến khi nuốt hòn sắt nóng mới ăn năn than thở”. Sự ăn năn than thở đó, hẳn không còn kịp nữa rồi! Là người tu, ta nên quan tâm chú ý đến lời cảnh giác của đức Phật nói ở đây. Đồng thời, cũng nên lưu tâm ghi nhớ lời Phật dạy trong câu cuối của pháp cú 372: “Người nào gồm đủ thiền định và trí huệ, thì gần đến Niết bàn”. Pháp cú 373, Phật dạy người xuất gia đi vào chỗ yên tĩnh thời tâm thường vắng lặng. Điều nầy, rải rác trong những pháp cú trước, đức Phật cũng từng khuyên bảo chúng ta như thế. Nên nhớ, bản thân của đức Phật, cũng như các vị Tỳ kheo đều sống đời sống phạm hạnh khất thực. Do đó, nên các Ngài không ở một chỗ cố định. Phần nhiều, các Ngài đều sinh hoạt trong rừng sâu núi thẳm. Sau khi đi khất thực ở xóm làng, các ngài thường tìm nơi vắng vẻ để thiền quán. Đó là đời sống không có gì bận rộn vướng mắc buộc ràng. Do vậy, nên tâm các Ngài luôn luôn được thảnh thơi an lạc. Ngoại cảnh tuy là điều kiện ngoại tại, nhưng nó cũng giúp cho sự thanh lọc phiền não của người tu rất lớn. Đối với trình độ căn cơ của các Ngài thời đó, mà còn tìm chỗ thanh tịnh vắng vẻ để gạn lọc thanh tịnh hóa thân tâm. Còn đối với chúng ta thời nay thì sao? Thời nay, chắc chúng ta hơn các Ngài ở chỗ, là thường ở những nơi ồn ào náo động. Lý do biện minh, là vì thời đại khoa học tiến bộ, cần phải thích nghi với mọi nhu cầu hoàn cảnh. Thích nghi thì có, nhưng mà dứt “Si mê” thì không. Thật thế, đối với căn cơ hạ liệt như chúng ta, thử hỏi làm sao giữ tâm yên tịnh giữa cảnh phiền toái nhộn nhịp náo động cho được? Tâm ta chưa an tịnh, thì làm sao tránh khỏi không bị ngoại cảnh chi phối lôi cuốn?! Tâm có tịch tịnh, thì ta mới có thể dễ quán sát nhìn kỹ lại mình hơn. Đồng thời, ta mới có đủ năng lực sáng suốt để tư duy sát nghiệm chân lý. Khi sống trong tư duy chánh pháp, tất nhiên, là ta có được sự an lạc của tâm hồn. Sự an lạc nầy, chỉ có những người nào thiết thiệt thực nghiệm chân lý, mới có thể cảm nhận được mà thôi. Đó là điều mà người ngoại cuộc, thật không thể nào thấu hiểu được. Do đó, nên Phật nói: “quán sát theo chánh pháp thì được thọ hưởng cái vui siêu nhân”. Pháp cú 374, đức Phật bảo chúng ta phải chánh niệm, chánh quán ở nơi xác thân ngũ uẩn. Ngũ uẩn là do năm thứ tích tụ kết hợp thành thân. Bản chất của chúng là sanh diệt vô thường. Thân tâm nầy chỉ là nhân duyên giả hợp. Đã giả hợp, tất nhiên, nó phải bị tan rã hoại diệt. Sanh, già, bệnh, chết, là một chu kỳ biến dịch của đời người. Từ sanh đến tử, trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm biến đổi, sanh diệt khổ đau. Chiêm nghiệm thật kỹ xác thân ngũ uẩn nầy, ta thấy quả nó là một chuỗi dài biến hoại đau khổ. Nhận rõ bản chất sanh diệt vô thường của nó, ta không còn tham chấp, để rồi gây ra làm khổ đau hệ lụy cho mình và người. Và như thế, là ta đã chứng nghiệm nếm được mùi vị của sự an lạc hạnh phúc. Vì ta sống có tỉnh thức, có chánh niệm trong từng mỗi phút giây hành động vậy. Pháp cú 375, đức Phật nêu ra bốn vấn đề thiết yếu để thức nhắc chúng ta. 1. Sống trong đời phải sáng suốt. Sáng suốt là trí huệ. Muốn có được trí huệ sáng suốt, thì ta cần phải siêng năng trau dồi ba môn huệ học: Văn, Tư, Tu. Văn là nghe, rộng ra là đọc tụng nghiên cứu tìm hiểu kinh điển. Tư là suy nghĩ quán chiếu những gì đã nghe và học hỏi. Tu là thật hành thực nghiệm những gì đã tư duy chín chắn. Từ đó, chúng ta mới có được trí huệ thế gian và siêu xuất thế gian. Trí huệ thế gian là thứ trí huệ hữu lậu khéo biện biệt rõ những điều gì có lợi và có hại trong đời sống hằng ngày. Lợi thì nên làm và hại thì nên tránh. Như thế, trí huệ đó cũng giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong khi tiếp cận với môi trường sống. Còn trí huệ xuất thế gian là trí huệ vô lậu, còn gọi là trí huệ bát nhã. Thứ trí huệ nầy tuy sẵn có, nhưng cũng phải do tu mới được. Nghĩa là phải có năng lực công phu thiền định sâu dày mà phát sanh. Đây là thứ trí huệ có công năng phá tà hiển chánh, giản trạch nhận rõ các pháp là giả dối không thật. Do nhận định đúng chân lý, nên chúng ta không gây tạo các ác pháp. Do đó, nên được an lạc giải thoát. 2. Nhiếp hộ các căn. Vấn đề nầy Phật dạy chúng ta phải khéo gìn giữ ở nơi sáu căn. Không để các căn buông lung nhiễm trước ở nơi sáu trần. Vì có nhiễm trước là có đau khổ. Người tu phải phòng hộ sáu căn như người canh giữ gác cổng. Người gác cổng không thể nào chểnh mảng giải đãi lơ là được. Phải luôn luôn để tâm chú ý theo dõi hành tung của kẻ ra người vào. Có thế, thì thành trì mới mong an ổn. Cũng thế, chúng ta phải gìn giữ sáu căn như người canh gác cửa cổng. Phải chú ý kiểm soát cẩn trọng từng ý nghĩ, lời nói và việc làm. Phải kiểm soát nghiêm mật như kẻ chăn trâu, hay như mèo rình chuột. Có thế, thì đời tu của chúng ta mới có tiến bộ trên bước đường giác ngộ giải thoát vậy. 3. Biết đủ. Đây là Phật dạy người tu phải thật hành hạnh tri túc. Tri túc là đời sống biết đủ, đơn giản, chừng mực. Người nào không biết đủ tuy giàu mà nghèo, ngược lại, người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người biết đủ thì được an vui, vì họ không làm nô lệ cho những thứ dục vọng sai khiến. Họ là người khéo biết tùy duyên an phận thủ thường để sống. Đối với người xuất gia, hạnh tu nầy rất thiết yếu, nếu chúng ta muốn được an lạc giải thoát. Đây là vấn đề rất quan trọng trong sự tu hành. Do đó, nên Phật Tổ thường khuyên dạy hay nhắc đi nhắc lại vấn đề nầy rất nhiều. Ở đây, chúng tôi không muốn dong dài luận bàn thêm. 4. Hộ trì giới luật. Giới luật là căn bản giải thoát của người tu. Người không giữ giới, khác nào như ngựa không giây cương. Đó là hiện thân của đời sống phóng túng, bê tha trụy lạc. Tất nhiên, là phải chuốc lấy họa hại vào thân. Là người Phật tử, dù tại gia hay xuất gia, Phật dạy, tất cả đều phải nghiêm trì giới luật. Nếu không, thì đời đời phải chịu trầm luân đau khổ. Pháp cú 376, Phật dạy chúng ta phải có thái độ thành khẩn và hành vi đoan chánh. Thái độ là biểu lộ hình tướng bên ngoài, tức thuộc về phần oai nghi. Thành khẩn là lòng chí thiết trong tâm. Như vậy, đối với người xuất gia, Phật dạy, trong ngoài đều phải nghiêm trang. Thái độ bên ngoài là hình thức có thể đánh giá được trong tâm chúng ta. Người xưa nói: “tâm ư trung xuất hành ư ngoại”. Nghĩa là trong tâm thế nào, thì biểu lộ ra hình tướng bên ngoài thế ấy. Trong tâm có thành khẩn thì biểu lộ bên ngoài mới nghiêm trang thành khẩn. Đây là điều rất quan trọng để đánh giá được nguời tu. Ngoại trừ những bậc đạt đạo, mới có những hành động xuất cách mà ta không thể nào đoán định được. Ngoài ra, kẻ phàm phu thường tình như chúng ta, thì cần phải giữ gìn cả hai. Nhất là lòng thành kính bên trong. Vì tâm là cội gốc, còn hành động biểu lộ bên ngoài là cành ngọn. Thế nên, giữ gìn chánh niệm trong tâm mới là điều quan trọng nhứt của người tu. Do đó, nên Phật nói: “Được như vậy họ là người nhiều vui và sạch hết khổ não”. Chuyện lược dẫn trên, ta thấy bà mẹ của thầy Sona, vì hâm mộ tôn kính pháp, nên bà không màng gì đến tài sản. Điều nầy, thế gian thật hiếm có. Ba lần nhận tin, bà quyết không rời khỏi giảng đường. Lòng bà vẫn bình tĩnh thản nhiên, như không có chuyện gì xảy ra. Đó là do vì bà chứng nhận được lý vô thường. Vạn vật chỉ là phù hoa hư ảo. Chỉ có pháp tánh mới là chân thật. Nhờ nhận rõ mọi vật vô thường giả huyễn, dù đó là vàng bạc quý báu cũng không tồn tại lâu dài, cho nên bà không lộ vẻ một chút hối tiếc. Chẳng những thế, mà bà còn quở trách người tớ gái đưa tin làm rộn tâm bà. Chính thái độ đó, mà bà đã cảm hóa nhiếp phục được tên đầu đảng tướng cướp. Và cả bọn chúng đều hồi tâm quay về nẻo thiện, cải tà quy chánh. Tất cả đều xin xuất gia học đạo với Tôn giả Sona.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 368 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?