Não há uma trilha no céu; não há um monge verdadeiro que não faça parte da Ordem. Nada sobrevive no mundo dos fenômenos externos, mas os Buddhas são sempre os mesmos. (255) AQUELE QUE TEM COMO BASE A LEI
Não há nenhum rastro no céu, nem nenhum recluso lá fora (a dispensação do Buda). Não existem coisas condicionadas que sejam eternas, nem instabilidade nos Budas. Lược giảng “Câu chuyện xảy ra, liên quan đến du sĩ Tu bạt đà la (Subhadda). Khi đức Thế ton sắp nhập diệt, trong rừng Sa la trong thành Câu thi. Chuyện kể rằng, khi trước con của Tu bạt đã cúng dường chin lần những phẩm vật đầu mùa gặt cho đức Phật, còn Tu bạt thì không ưng e từ chối, cuối cùng mới chịu cúng. Vì thế ông không gặp Thế Tôn lúc Ngài vừa thành đạo e giảng đạo. Đến lúc cuối, Ngài gần nhập diệt, ông mới tự nghĩ: “Ta có ba điều nghi. Và đã hỏi các Trưởng lão để giải nghi. Lúc ấy Sa môn Cồ đàm còn trẻ nên ta không đến hỏi. Bây giờ thời gian Niết ban sắp đến, nếu ta không hỏi, sau sẽ ân hận.” Ông đi đến chỗ Phật. Tôn giả A nan ngăn ông lại, nhưng Phật đã bảo: -A nan, chớ ngăn Tu bạt đà la, hãy để ông vào thưa hỏi. Tu bạt vào, ngồi ở chân giường e hỏi Phật: -Bạch Ngài, có con đường não trên không trung? Có người nào được gọi Sa môn khi ở ngoài chánh đạo? Pháp hữu vi có trường tồn? Phật dạy ông những việc ấy không thể có, e nhân đó Ngài nói hai pháp cú này ». (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 81) Hai pháp cú trên, Phật nêu ra ba vấn đề xác minh rất rõ. Thứ nhứt, Phật nói: “giữa hư không thì làm gì có dấu vết”. Đây là Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt mà ông Tu bạt đã nêu ra. Giữa bầu trời trong tạnh, một đàn chim bay qua, chúng không để lại một dấu vết gì cả. Bầu trời không có ý lưu lại hình ảnh của chung. Và chúng cũng không có ý muốn lưu lại hình ảnh của chúng khi bay ngang qua bầu trời. Mà dẫu có muốn để lại cũng không được. Đây là một hình ảnh thật giải thoát. Chim nhạn qua dòng nước Chẳng lưu lại vết hình Nước vô tâm in bóng Nhạn vô ý lưu hình. & Biển ngàn in trăng bóng Duy nhất một vầng trăng Tùy vọng thấy sai khác Nào trăng có đổi thay. & Trời xanh én lượn êm đềm Ngàn sao lấp lánh vẫn yên bầu trời Thuyền chèo bạt nước mù khơi Trở về bến cũ thảnh thơi an não. Bầu trời là dụ cho người tu đã đạt được quả vị Niết ban. Vì Niết bàn là vô sanh. Você não sabe o que fazer, não. Phiền não có ra là do có vọng tưởng. Mà còn vọng tưởng là còn có sanh diệt. Faça isso. Đến đây, là tịch diệt, là Niết ban an lạc. Niết ban ở đây là Phật ngầm chỉ cho Niết ban của hàng A la hán. Vì A la hán đã dứt hết phiền não “Kiến, Tư” hoặc. Nên trong kinh thường nói các Ngài này là việc lợi mình đã xong. Đã xong việc lợi minh, nhưng con việc lợi người, thì các Ngài rất ngao ngán, không dám hóa độ. Do đó, nên các Ngài bị Phật quở: “trầm không trệ tịch hay khôi thân diệt trí”. Sự khác biệt giữa Thanh Văn e Bồ tát là ở chỗ bản nguyện độ sanh. Nhưng phải đến quả vị Phật thì việc tự lợi, lợi tha mới hoàn toàn viên mãn, nên gọi Phật là giác hạnh viên mãn. Thứ hai, Phật nói: “trong ngoại đạo làm gì có Sa môn”. Sa môn (Samano) chỉ cho những vị đã chứng ngộ bốn thánh quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm e A la hán. Trong bốn thánh quả này, ngoại trừ quả vị A la hán ra, còn lại ba quả vị trước là các Ngài đang tu tập hướng tiến đến quả vị Niết ban A la hán. Sở dĩ Phật nói bốn quả vị này khác với ngoại đạo là vì những vị này nhân nghe Phật nói pháp Tứ đế, mà các Ngài y cứ vào đó nỗ lực tiến tu diệt trừ hết tập nhân phiền não, nên các Ngài đạt được quả vị Niết ban. Trong khi đó, ngoại đạo, họ không xoay lại để diệt trừ tập nhân phiền não, mà họ chỉ một bề hướng ngoại tìm cầu, nên họ không thể chấm dứt đường sanh tử khổ đau. Dù cho họ có đủ lực dụng thần thông, nhưng đó chỉ là thứ thần thông do họ công phu luyện tập mà có. Nói tóm lại, họ là người tu chạy theo cái ngọn, hướng ngoại tìm cầu, mà không căn cứ vào cái gốc là quán sát nội tâm để gạn lọc dứt hết phiền não. Do đó, nên gọi họ là ngoại đạo. Nghĩa là ngoài tâm cầu đạo đều gọi chung là ngoại đạo. Sự khác biệt giữa ngoại đạo e Sa môn, (tức những người tu theo đạo giải thoát sanh tử khổ đau) là ở chỗ đó. Thứ ba, Phật nói: “chúng sanh thích điều hư vọng, mà Như Lai làm gì còn hư vọng”. Ta nên chú ý ở câu chót này (tạm gọi) giữa pháp cú 254 e 255 có hơi khác. Pháp cú 255, Phật nói: “Năm uẩn thì không thường tru, mà Như Lai thì chẳng loạn động bao giờ”. Câu trên (254) Phật nói rõ, chúng sanh thích điều hư vọng, mà Như Lai làm gì con hư vọng. Faça isso. Là không phù hợp với chân lý. Phật nói, chúng ta là những người thích chống chạy theo giả dối. Dùng mọi thứ giả dối để khuynh loát lừa gạt lẫn nhau để sống. Người nào khôn khéo biết cách xử dụng nhiều thứ giả dối che mắt người đời, thì người ta gọi những người đó là tài giỏi. Còn người nào không khéo lừa bịp che mắt thiên hay hay nói năng những lời chan thật phù hợp với chân lý, thì bị người ta cho đó là quê mùa vụng về. Vì họ không có tài xảo thuật mánh khóe lừa bịp. Lời thật bao giờ cũng trái tai người nghe. Então, você pode fazer o que quiser. Càng nói dối gạt gẫm thiên hạ nhiều chừng nào, thì sẽ được mọi người tan dương e có lợi nhiều chừng đó. Thế thì, đời sống của chúng ta, nếu đem giáo Pháp Phật dạy ra mà quán chiếu thật kỹ, thì than ôi! tất cả chúng ta toàn là những người sống giả dối. Mọi vật đều giả dối. Nhưng vì lòng si mê chấp “ngã, pháp” quá nặng, nên đối với chúng ta cái gì cũng cho là thật hết. Không ai biết minh đang sống trong giả dối. Cái thân tạm bợ không thật, hay xấu xí giống như ma trơi, nhưng phải nói là cái thân này sống lâu e đẹp đẽ. Còn nói thân này giả dối, không sạch giống như cầu xí, thì người ta cho kẻ đó nói khùng điên. O que você acha de algo assim? Você não sabe o que fazer, o que você quer fazer com o que você quer? Chắc ai cũng nói kẻ mà nói thật, nói thẳng, vì không khéo chiều được lòng thiên hạ, thì quả kẻ đó là khùng điên rồi. Vấn đề này, xin để mỗi người hãy bình tâm suy xét e mỗi người tự tìm cho mình một kết luận thích đáng. Ngược lại, Phật nói Như Lai làm gì còn hư vọng. Như Lai là nghĩa bất sanh bất diệt, vượt ngoài đối đãi nhị nguyên, thế thì con nói cái gì là vọng hay không vọng. Càng nói càng sai lầm. Xin đừng vẽ rắn thêm chưn, hay đầu lại thêm đầu. Những lời nói chỉ là hư vọng làm sao nói đến chỗ chân thật cho được. Đến chỗ tuyệt đối, thì ngôn ngữ hoàn toàn bất lực đầu hàng. Như Lai là Như Lai. Chỉ có thế thôi! Pháp cú 255, Phật nói năm uẩn thì không thường trú, mà Như Lai thì chẳng loạn động bao giờ. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành , thức. Những thứ này cũng do nhân duyên giả hợp mà có, bản thân nó là giả dối không thật. Vì chúng chỉ là những hiện tượng trên bề mặt của ý thức. Chỉ là những lượn canção nổi lô nhô trên mặt biển phẳng lặng. Sóng thì khi có, khi không, nên nói chúng không thường trú. Chúng là những pháp hữu vi. Nhưng mặt biển thì không vắng mặt bao giờ. Như lai làm gì có loạn động? Mặt biển là mặt biển. Mặt biển không động, không loạn. Loạn động là song chớ không phải mặt biển. Nhưng rời mặt biển thì không có song. Cũng thế, mọi hiện tượng tâm lý dấy khởi không rời ban tâm. Nhưng bảo toàn canção chính là mặt biển là sai. Você vai cantar e fazer isso com você. Vì ly khai mặt biển thì không có song. Vọng e chơn cũng thế. Lìa chúng sanh thì không có Như Lai. Lìa vọng thì không có chơn. Phiền não không rời bồ đề mà có. Nhưng chớ nhận lầm phiền não là bồ đề. Xin chớ nhận lầm nước đục là nước trong. Nhưng muốn có nước trong, cần phải lóng lặng hết cặn bã nhơ đục. Muốn có bồ đề, phải dứt hết phiền não. Đó là nghĩa Như Lai không phải là chúng sanh. Lìa vọng không chơn, lìa chơn không có vọng. Đây là pháp môn Bất Nhị. Nói một là sai mà nói hai thì không đúng. Như vậy cái gì có sanh có diệt đều là những hiện tượng giả dối, não é isso. Còn cái gì không sanh không diệt, isso cái đó mới chân que thường con. Xin mọi người hãy lặng sâu để sống cho được cái chan thật thường con này. Você pode fazer isso com algo que você precisa. Còn sống tranh đua hơn thua với con người giả dối này, thì than ôi ! chúng ta sẽ con khổ đau tiếp nối dài dài e không biết ngày nào mới được thoát ra! XIX. PHẨM PHÁP TRỤ (Dhammatthavaggo)

Comentário profundo

Esta história está relacionada ao andarilho Subhadda, quando o Honrado pelo Mundo estava prestes a entrar em parinibbana no bosque Sala, na cidade de Kusinara. Diz-se que antes o filho de Subhadda ofereceu ao Buda nove vezes os primeiros frutos da colheita, mas o próprio Subhadda não quis e recusou, finalmente concordando apenas em oferecer. Por causa disso, ele não conheceu o Honrado pelo Mundo quando ele alcançou a iluminação e ensinou o Dharma. No final, quando o Buda estava prestes a entrar no parinibbana, Subhadda pensou consigo mesmo: “Tenho três dúvidas. Pedi aos mais velhos que os resolvessem. Naquela época, o asceta Gotama ainda era jovem, então não fui perguntar a ele. Agora o momento do seu Nibbana está se aproximando; se eu não perguntar a ele, vou me arrepender mais tarde." Ele foi até onde o Buda estava. O Venerável Ananda tentou detê-lo, mas o Buda disse: “Ananda, não pare Subhadda; deixe-o entrar e perguntar”. Subhadda entrou, sentou-se aos pés da cama e perguntou ao Buda: “Venerável Senhor, existe algum caminho no céu? Existe alguém chamado de recluso fora do verdadeiro caminho? As coisas condicionadas podem ser eternas?" O Buda ensinou-lhe que essas coisas são impossíveis, e naquela ocasião pronunciou estes dois versos. Nestes dois versos, o Buda esclareceu claramente três questões. Primeiro, ele disse: “Não há rastro no céu”. Isto responde à primeira pergunta de Subhadda. No céu claro, um bando de pássaros voa sem deixar rastros. O céu não tem intenção de reter a sua imagem, nem os pássaros pretendem deixar imagem. Mesmo que quisessem, não poderiam. Esta é uma imagem verdadeiramente libertadora. O céu é uma metáfora para quem alcançou Nibbana. Nibbana não nasceu. Estar por nascer significa que não resta nenhum vestígio de impurezas. As impurezas surgem de pensamentos ilusórios. Onde há pensamentos ilusórios, há nascimento e morte. Quando os pensamentos ilusórios cessam, o nascimento e a morte cessam. Essa é a extinção pacífica, a bem-aventurança de Nibbana. Aqui, o Buda refere-se implicitamente ao Nibbana dos arahants, que erradicaram todas as impurezas da visão e da paixão. Assim, as escrituras dizem que eles completaram o seu próprio bem-estar. Tendo completado seu próprio bem-estar, eles relutam em se envolver no bem-estar dos outros, não ousando ensinar. Portanto, o Buda os criticou por "afundarem no vazio, apegados à quietude, ou destruindo seus corpos e aniquilando sua sabedoria". A diferença entre um discípulo (sravaka) e um bodhisattva está no voto original de salvar os seres. Somente no estágio do estado de Buda o benefício próprio e o benefício alheio são plenamente aperfeiçoados, por isso o Buda é chamado de Perfeitamente Iluminado. Em segundo lugar, o Buda disse: “Não há nenhum contemplativo fora (da dispensação do Buda)”. Um recluso (samana) refere-se a alguém que realizou os quatro estágios da santidade: quem entra na corrente, quem retorna uma vez, quem não retorna e arahant. Exceto o arahant, os três primeiros ainda estão treinando para alcançar o arahant Nibbana. A razão pela qual o Buda disse que estes quatro são diferentes dos não-budistas é que eles, tendo ouvido o ensinamento das Quatro Nobres Verdades, se esforçam para erradicar as causas acumuladas das impurezas e assim alcançar Nibbana. Os não-budistas, por outro lado, não se voltam para dentro para erradicar as causas acumuladas das impurezas, mas apenas procuram o exterior; portanto, eles não podem acabar com o sofrimento do nascimento e da morte. Mesmo que possuam poderes psíquicos, esses poderes são adquiridos através de treinamento. Em suma, eles perseguem os ramos em vez da raiz, buscando o exterior sem observar a mente para eliminar as impurezas. Por isso são chamados de forasteiros (não-budistas), o que significa que todos aqueles que buscam o caminho fora da mente são chamados coletivamente de forasteiros. Essa é a diferença entre estranhos e reclusos (aqueles que praticam o caminho da libertação do sofrimento e da morte). Terceiro, o Buda disse: “A humanidade deleita-se com o mundanismo, mas os Budas estão livres do mundanismo”. Observe que a frase final do versículo 255 é um pouco diferente: “Não existem coisas condicionadas que sejam eternas, nem instabilidade nos Budas”. No versículo 254, o Buda disse claramente que os seres se deleitam com a falsidade, mas o Tathagata não tem falsidade. A falsidade é engano, irrealidade, não está de acordo com a verdade. O Buda disse que somos pessoas que se deleitam em perseguir a falsidade, usando todos os tipos de engano para enganar uns aos outros e sobreviver. Aqueles que usam habilmente muitos enganos para cegar os outros são chamados de espertos. Aqueles que não são adeptos do engano, ou que falam palavras verdadeiras e de acordo com a realidade, são considerados rústicos e desajeitados porque lhes falta a arte do engano. Palavras verdadeiras são sempre desagradáveis ​​de ouvir. Assim, as pessoas competem para usar todos os truques e técnicas para mentir. Quanto mais mentem e enganam, mais são elogiados e mais lucram. Portanto, se refletirmos cuidadosamente sobre as nossas vidas à luz dos ensinamentos do Buda, infelizmente! estamos todos vivendo no engano. Tudo é falso. Mas devido à nossa profunda ignorância e ao apego ao eu e aos fenômenos, consideramos tudo como real. Ninguém sabe que eles estão vivendo na falsidade. Este corpo temporário é irreal, feio como um fogo-fátuo, mas dizemos que dura muito e é lindo. Se alguém diz que este corpo é falso, impuro como um vaso sanitário, as pessoas o chamam de louco. Mas ele está realmente louco? Ou serão aqueles que encobrem, que não ousam falar diretamente e encarar a verdade da vida, os verdadeiros loucos? Certamente todos diriam que quem fala a verdade e diretamente, porque não consegue agradar as pessoas com habilidade, é realmente louco. Deixe que cada pessoa considere isso com calma e tire sua própria conclusão. Por outro lado, o Buda disse que o Tathagata não tem falsidade. O Tathagata é o significado de não nascido e imortal, além da oposição dualística. Então, o que há para chamar de falso ou não falso? Quanto mais se fala, mais se engana. Não desenhe pernas em uma cobra nem adicione uma cabeça a outra. As palavras são meramente falsas; como eles podem alcançar a verdade? No nível absoluto, a linguagem é completamente impotente e rende-se. O Tathagata é apenas o Tathagata. Isso é tudo. No versículo 255, o Buda disse que os cinco agregados não são eternos e que o Tathagata nunca fica agitado. Os cinco agregados são forma, sentimento, percepção, formações mentais e consciência. Estas coisas surgem através de combinação condicional; sua natureza é falsa e irreal. São apenas fenômenos superficiais da consciência, como ondas subindo em um oceano calmo. As ondas aparecem e desaparecem, portanto não são eternas. São coisas condicionadas. Mas o oceano nunca desaparece. Como poderia o Tathagata ficar agitado? O oceano é o oceano. Não se move, não fica agitado. A agitação pertence às ondas, não ao oceano. No entanto, além do oceano, não existem ondas. Da mesma forma, todos os fenômenos mentais surgem sem sair da mente original. Mas dizer que as ondas são inteiramente o oceano é errado. As ondas e o oceano são dois, mas não dois, porque fora do oceano não existem ondas. Ilusão e verdade são a mesma coisa. Além dos seres sencientes, não existe Tathagata. Além da ilusão, não há verdade. As contaminações não surgem fora do bodhi. Mas não confunda contaminações com bodhi. Não confunda água turva com água limpa. Para ter água limpa, é preciso assentar e remover todos os sedimentos. Para ter bodhi, é preciso erradicar todas as impurezas. Isto significa que o Tathagata não é um ser senciente. Fora da ilusão, não há verdade; além da verdade, não há ilusão. Esta é a porta da não-dualidade. Dizer que um está errado, dizer que dois não está correto. Assim, tudo o que tem nascimento e morte é um fenômeno falso e irreal. O que não nasce e não morre é verdadeiramente eterno. Que todos possam permanecer profundamente em quietude para viver esta verdadeira realidade eterna. Pois esse é o nosso verdadeiro eu. Se continuarmos a competir e a lutar contra esse falso eu, infelizmente! sofreremos sem parar, sem saber quando escaparemos. Capítulo XIX: O Estabelecido no Dhamma (Dhammatthavagga).

🌿

Assistente IA Zen

On-line

Bem-vindo. Sou seu companheiro Zen IA, para ajudar você a refletir sobre o Verso 255. Você tem alguma dúvida ou gostaria de explorar melhor o seu significado?