Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy, Phật nói tại Kỳ Viên, có liên quan đến Trưởng lão Khadiravaniya Revata. Revata là em út của Tôn giả Xá Lợi Phất. Xá Lợi phất có ba người chị và hai người em đều đi tu, chỉ còn có cậu em út là chưa đi tu. Cậu em út Revata nầy, mới lên bảy tuổi, vì cha mẹ của Tôn giả sợ cậu con trai nầy theo anh chị em đi tu, nên hai ông bà cưới vợ cho cậu út nầy rất sớm, chỉ mới 7 tuổi thôi. Một hôm, đang rước dâu ở nhà gái, mọi người đến chúc phúc cho cô dâu sống lâu già như bà nầy (chỉ bà già 120 tuổi, rụng hết răng, tóc bạc, má cóp da nhăn, còn da bọc xương) Bấy giờ, chú rể nhìn thấy sửng sốt. Trời ơi! Nếu vợ ta già như thế nầy, thì còn gì là nhan sắc đẹp đẽ nữa đâu. Chàng ta lo nghĩ trong lòng chẳng nói ra. Đến khi, trên đường rước dâu từ nhà gái về nhà chàng, chàng giả bộ đi cầu rồi trốn luôn đi tu. Xá Lợi Phất hay tin và Ngài đến thăm em. Cậu em Ly bà Đa sợ gia đình hay tin đến bắt về, nên cậu nhờ các vị Tỳ kheo chỉ dạy thiền quán và không bao lâu cậu bé chứng quả A la hán. Sau đó, Ly bà Đa giả từ mọi người lên đường khất thực Sau cậu trở thành một Trưởng lão có đầy đủ oai đức lớnChỗ ở của Ngài là một rừng gai. Phật và Xá Lợi Phất đến thăm Có thầy Tỳ kheo phiền trách về chỗ ở của Ly bà Đa là thế nầy thế kiaNhân đó, Phật nói pháp cú nầy. Cảnh thanh vắng u tịch rất thích hợp cho những ai có chủng tử thích sống cô tịch để dễ gạn lọc phiền não. Ngược lại, nó sẽ không thích hợp cho những ai có chủng tử thích sinh hoạt náo động. Vì thế, ta không lấy gì làm lạ khi thấy những người xuất gia có vị thích ở phố thị, có người thích ở núi rừng. Đấy là do chủng tử sai biệt trong quá khứ. Một người thích sống ở núi rừng, lòng họ cảm thấy rất nhẹ nhàng thanh thoát. Ngược lại, cũng cảnh đó, nhưng với người thích sống thành thị, thì họ cảm thấy rất là buồn tẻ. Ở đây, Phật dạy, đối với những bậc đã hết phiền não, thì dù ở đâu, họ cũng cảm thấy an vui. Còn những ai phiền não chất chồng, đầy ấp, thì dù sống ở cảnh nào cũng không bao giờ cảm thấy hài lòng vui vẻ. Như vậy, pháp cú nầy, Phật cho chúng ta một bài học về cảnh và tâm. Giữa cảnh và tâm, tuy nó có liên quan mật thiết với nhau như da với thịt, nhưng bao giờ tâm cũng là quan trọng hơn. “Vì trong tất cả các pháp tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả” Người tu, dù xuất gia hay tại gia, bao giờ Phật cũng dạy chúng ta, phải nỗ lực chế ngự điều phục tâm. Vì tâm là nguyên nhân chính gây ra nghiệp khổ vui. Tâm ai còn phiền não, thì người đó khó được giải thoát. Muốn được an vui hạnh phúc, người tu cần phải tiêu trừ phiền não. Trong khi nhiếp tâm gạn lọc tiêu trừ phiền não, đối với người mới tập tu, thì cảnh trí chung quanh cũng tác động ảnh hưởng rất lớn. Do đó, thời xưa, ta thấy ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, phần lớn, các bậc thiền đức tu hành, sau khi tham vấn ngộ đạo, các Ngài hay vào rừng sâu núi thẳm để ẩn tu. Vì cảnh trí ở núi rừng là môi trường sống rất yên tĩnh dễ được định tâm hơn. Càng tránh bớt duyên đời chừng nào, thì càng dễ yên tu hơn chừng nấy. Tổ Quy Sơn có dạy: “Muốn gội tâm nuôi đức, phải ẩn tích mai danh, muốn uẩn tố tinh thần, phải xa nơi huyên náo”. Trừ những bậc đã được thánh quả, hay đạo lực cao thâm, còn lại, những ai đang trên đường tu tập, để đoạn trừ phiền não, mà sống giữa nơi phồn hoa đô hội, rộn rịp ồn ào, thì không làm sao tránh khỏi sự chi phối ở nơi bản tâm. Đó là chưa nói đến những công việc bận rộn, rối rắm, cần phải giải quyết. Từ sáng tới tối, hết làm việc nầy, đến giải quyết việc kia, còn thời gian đâu nữa mà tham thiền, niệm Phật. Ngoại trừ những bậc căn cơ bậc thượng, tu trong mọi hành động, mọi hoàn cảnh, làm mà không thấy có mình làm trong đó. Làm trong chánh niệm, hay hành xả. Nếu chưa được như thế, thì công việc đã chiếm hết thời giờ tu. Tâm ta lúc nào cũng chạy theo công việc khó được an định. Dù viện dẫn với bất cứ lý do nào, theo tôi, thì đây là một sự thật. Muốn tâm an, mà cảnh luôn luôn xáo động, thì tâm ta thật khó dừng. Làm sao khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không dính mắc cho được? Nếu ai được đối cảnh vô tâm, thì dù ở bất cứ nơi đâu cũng là Cực lạc. Những người được như thế, thì cần gì phải nói đến Tịnh đến Thiền. Lý thuyết bao giờ cũng là lý tưởng, nhưng thật hành thì thật là chanh chua gian khổ. Bởi cớ đó, điều mà chúng ta phải thật tâm nhìn nhận, thời nay, sự tu hành của người xuất gia, so với thời xưa, thật khó mà đạt được an định. Tu mà tâm không an định, thì thử hỏi: làm sao tương ưng với Phật? Sống thời đại khoa học, theo nhu cầu của sự sống, con người dù ngoài đời hay trong đạo, ai cũng có nhiều bận rộn. Nếu không khéo, thì mọi người sẽ trở thành “cái máy biết nói”. Hiện nay, có biết bao người đang kêu gào về sự bật gốc và nhơn loại đang tiến dần vào ngỏ cụt của sự sống!. Nhơn loại ngày nay đang trên đà chạy đua vật chất. Cuộc sống của họ là đồng nghĩa với xáo trộn, nổi loạn, bất an. Tâm trí của họ luôn luôn quay cuồng như chong chóng. Môi trường sống toàn là náo động ồn ào bởi những thứ động cơ máy móc gây ra. Con người sống hướng động như thế, trách gì mà không nổi loạn! Bệnh tâm thần càng ngày càng nhiều. Con người không còn phương cách chạy chữa. Nương về với Tôn giáo ư? Tìm nơi yên tĩnh để di dưỡng tinh thần, tìm đâu ra đây? Chùa, nhà thờ, hay thánh thất? Tất cả đều như trong một guồng máy sinh hoạt náo động. Nơi nào cũng có những cảnh động bởi do người gây ra. Chính vì lẽ nầy, nên có nhiều vị tu hành đang nghĩ đến tìm nơi tháo gỡ bớt những rối rắm trong lòng của mọi người. Nếu không, nó có ngày sẽ nổ tung và thế giới nầy sẽ trở thành thiêu hủy trong nháy mắt. Đó là một viễn tượng hãi hùng không thể không xảy ra, nếu nhơn loại không tự tìm phương giải quyết. Con người sống phóng thể như thế, làm sao có được an tĩnh đây? Các nhà lãnh đạo của các Tôn giáo, các Ngài đang ưu tư một thảm họa của nhơn loại như thế! Tất cả như đang dồn hết mọi nỗ lực để tìm phương tháo gỡ: những âu lo, những sợ hãi, những nổi loạn, mà con người vừa là một tác nhân mà cũng vừa là một tác quả. Pháp cú trên, Phật cho chúng ta như một báo động về cuộc sống của nhơn loại. Hơn lúc nào hết, thế giới ngày nay, rất cần những con người tỉnh thức. Nhơn loại rất cần những con người hành động, tu chứng. Phật nói một cách rõ ràng rằng: “bất cứ nơi nào có vị A la hán, thì ở đấy đầy cảnh tượng an vui”. Chỉ có con người hết khổ bởi tham sân si hoành hành, thì mới đem đến cho nhơn loại những suối nguồn yêu thương tươi mát. Suối nguồn yêu thương càng tuôn chảy, thì càng xoa dịu bớt nỗi khổ đau của con người. Muốn có được con người đó, mỗi người cần phải xoay lại tìm nơi chính mình. Có xoay lại, mới tìm thấy. Có tìm thấy và sống được với “con người thật” đó, thì nhơn loại mới hy vọng thoát được nỗi khổ đau tự hủy diệt. Chừng đó, mới thật sự thoát kiếp lưu vong đọa đày Tích truyện trên cho ta thấy, một cậu bé mới bảy tuổi đã nhìn thấy đầu nguồn của sự khổ. Sanh, già, bệnh, chết, đó là bốn quy trình sinh diệt, thống khổ, không một ai thoát khỏi. Nhận thức được cảnh tượng già nua, khi cuộc đời tàn tạ, thì con người không còn nhựa sống vươn lên, bấy giờ, muốn thoát ra khỏi cảnh tượng đó, thì than ôi! đã quá muộn màng rồi! Chi bằng, phải tìm phương giải cứu khi đã ý thức. Không chần chờ, không hứa hẹn, và không nhờ ai khuyên bảo. Chính mình phải tự cởi trói cho mình. Bằng vào ý thức sáng suốt đó, cậu bé đã trốn thoát. Trốn thoát trong hệ phược của gia đình và thoát luôn khỏi những trói buộc của não phiền. Thế là, không bao lâu cậu bé đã trưởng thành trong nếp sống cao đẹp của một con người thoát tục. Ánh sáng của mặt trời, không còn bị những đám mây mù che khuất. Từ đó, cậu bé đã thật sự lột xác, chuyển hóa con người phàm trở thành một con người thánh. Phàm thánh cũng từ một con người mà ra. Chỉ cần một chữ “Biết” chuyển đổi mà thôi. Chuyển phàm thành thánh, đó là một yếu lý của sự tu hành.
Thiền sư AI
Trực tuyến