Người tâm ý an tịnh, Lời an, nghiệp cũng an, Chánh trí, chơn giải thoát, Tịnh lạc là vị ấy.
Những vị A la hán ý nghiệp thường vắng lặng, ngữ nghiệp, hành nghiệp thường vắng lặng, lại có chánh trí giải thoát, nên được an ổn luôn.

Chú giải chi tiết

Pháp cú nầy, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến câu chuyện một Sa di của Trưởng lão Tissa. Trưởng lão Tissa được một Phật tử cho cậu bé xuất gia làm thị giả cho ông. Vị Sa di nầy đã chứng quả A la hán, trong khi đó, Trưởng lão Tissa mới được quả dự lưu (Tu đà hoàn). Một hôm, Trưởng lão Tissa thẩy cây quạt văng trúng mắt chú Sa di làm cho chú bị mù một con mắt. Nhưng chú ta cố che giấu không cho Thầy biết. Dù bị tật nguyền như thế, nhưng chú không một chút lộ vẻ buồn phiền trách giận. Khi biết được cớ sự, Trưởng lão Tissa cùng với người đệ tử trung thành đến bạch trình duyên cớ cùng đức Phật. Nhân đó Phật dạy pháp cú nầy (Tóm ý chính truyện tích). Bất cứ hành động nào cũng phát xuất từ ba nghiệp. Trong đời sống hằng ngày, người ta lo ăn, lo mặc đủ thứ, nhưng ít ai nghĩ đến việc tạo nghiệp của mình. Nhân quả có ra từ nghiệp. Tất cả việc làm lành hay dữ, đều từ ý nghiệp mà ra. Vấn đề nầy, trong kinh Phật thường lặp đi lặp lại nhiều lần. Vì tánh cách hệ trọng của nghiệp, nên Phật thường nhắc nhở cho chúng ta nhớ để ngăn ngừa. Muốn không có quả khổ, thì đừng gây nhân khổ. Trong đạo Phật, đối với người tu hành, vấn đề đạo đức, thâm chứng thật khó nói. Kính trọng người có tuổi tác giới đức, nó thuộc về phần giới luật, niên trưởng hạ lạp. Truyện dẫn trên cho ta thấy, Trưởng lão Tissa, tuy là một bậc thầy của chú Sa di, nhưng trình độ tu chứng lại không bằng. Đạo đức thâm hậu bên trong thật khó biết. Dù bị thầy liệng cây quạt văng trúng mù mắt, nhưng chú không một lời than van oán trách. Cố tình che đậy con mắt, sợ thầy trông thấy mà sanh tâm ăn năn hối hận. Vì không muốn cho thầy có chút buồn lòng, nên cam tâm âm thầm chịu đựng. Cho đến khi bị thầy phát hiện, bấy giờ, chú mới chịu trình bày thưa thật. Ôi! Quả thật một đức hạnh khó lường! Sở dĩ được thế do đâu? Do sức huân tu sâu dầy của chú, không phải hiện đời mà đã trải qua nhiều đời. Qua chuyện nầy, ta càng cẩn trọng hơn trong việc đối xử tiếp người. Bồ tát hiện thân dưới mọi hình thức thật khó biết. Đôi lúc, ta khinh thường một chú nhỏ, nhưng có biết đâu chú nhỏ đó lại là bậc thầy của ta. Không phải thầy ta trong hiện đời mà thầy ta trong nhiều kiếp. Với mắt phàm tục làm sao ta biết được. Tốt hơn hết, khi tiếp người, với bất cứ ai, ta không nên có thái độ khinh khi coi thường. Chú Sa di, tuổi tác tuy nhỏ, mà phiền não không còn vì đã chứng quả A la hán. Đã thế, thì làm gì có hiện tướng tham, sân, si. Chuyện nầy, đối với chúng ta, lấy trí phàm xét đoán, thì thật là khó tin. Tại sao bị thầy làm mù mắt mà vẫn âm thầm chịu đựng, không một lời oán trách? Hỏi thế, là vì chúng ta đang sống trong vòng nghiệp thức phiền não, nên việc hiểu biết của chúng ta, chỉ xoay quanh theo “bản ngã nghiệp thức phân biệt”. Nên việc đó, đối với chúng ta, quả là khó khăn, chỉ có thánh nhơn mới làm được. Nhưng trong việc tu hành, nếu chúng ta không tập cho mình có những đức tánh thánh nhơn nho nhỏ, thì làm sao có được thánh nhơn lớn hơn. Một hành động, dù không phải cố tình của một vị thầy gây ra, nhưng hậu quả rất lớn đối với con người. Nhứt là đối với một chú bé còn nhỏ tuổi. Sự đo đạc, đánh giá con người qua trình độ kiến thức rộng hay cấp bằng cao, đối với đạo Phật, không cho đó là quan trọng. Chớ nên ỷ lại cấp bằng cao mà nguy hiểm. Trong tập thơ Diệu Lý Pháp Đăng, Hòa Thượng Giác Nhiên có bài thơ nói về cấp bằng cao như sau: Người tu chớ ỷ cấp bằng cao Ỷ lại buông lung cũng té nhào Đạo quý nhờ nơi người có đức Đâu màng danh vọng kẻ tài cao Chữ tài thường vướng tai, tai hại Chữ đức bền lâu đức mãi hoài Vậy kẻ tầm tu tìm học đạo Răn lòng khiêm tốn thực hành mau. Điều quan trọng là con người đó thật có đạo đức hay không? Và có thật là người tu hành chơn chánh hay không? Đó mới là điều mà đạo Phật đánh giá, nhắm tới. Vì đạo đức là cội gốc của con người, học thức chỉ là một thứ đáp ứng nhu cầu cho đạo đức. Nói khác hơn, học thức chỉ là bổ túc cho đạo đức vững chắc, phong phú hơn. Cây học thức muốn được có hoa trái tươi tốt, thì phải có rễ đạo đức cấm sâu vào lòng đất nhân bản. Thiếu rễ đạo đức, thì cây học thức không thể nào đứng vững được. Chú Sa di trên, học lực chẳng có gì, nhưng mà đạo lực của chú quá thâm hậu cao siêu. Dù cho một người có kiến thức rộng, cấp bằng cao, nhưng gặp việc có tác hại cho cái “ta” của mình, thì thử hỏi, có mấy ai xử sự được như chú? Đó là chưa nói đến cái chướng ngại lớn của “Sở tri”. Học thức càng cao, “sở tri chướng” càng nặng. Sở tri chướng càng nặng, thì cái “ta” lại càng lớn. Từ đó, nảy sanh ra lắm điều tệ hại và làm chướng ngại trên bước đường tu chứng rất lớn. Ta nên nhớ, kiến thức không thể giải quyết được vấn đề sanh tử. Nếu kiến thức giải quyết được vấn đề sanh tử, thì Thái tử Sĩ Đạt Ta sẽ không ngồi dưới cội Bồ đề trải qua 49 ngày tư duy quán sát. Vì trước đó, Ngài có một kiến thức học lực siêu quần, nhờ thời gian quán chiếu thiền định sâu xa, nên Thái tử Sĩ Đạt Ta mới trở thành một bậc Đại Giác. Như thế, đủ đánh giá con người, nếu chỉ biết trau giồi cho mình có kiến thức sâu rộng mà không chịu huân tu cho mình có một đạo lực khá cao, thì sự hiểu biết đó, chỉ là một thứ rổng tuếch mà thôi. Nói khác đi, là chỉ phô trương để khoe khoang lòe thiên hạ. Do đó, đạo Phật chủ trương đạo đức (chân tu) là chánh mà học vấn là phụ. Chính cái đạo đức mới giải quyết con người thoát khỏi khổ đau. Con người có thực chất đạo đức mới hành xử cao thượng. Họ thận trọng gìn giữ ở nơi ba nghiệp. Họ thừa biết, cõi đời nầy, đau khổ hay hạnh phúc, đều từ ba nghiệp mà ra. Thân, miệng, ý là ba thứ cấu kết với nhau tạo thành nghiệp lành hay dữ. Ở đây, Phật khen chú Sa di, vì không còn dục lậu, nên mọi hận thù tranh chấp không có, do đó, mà tâm ý chú luôn được an tịnh. Sự tu hành chỉ ngần ấy. Đừng luận thuyết huyền đàm cao siêu. Chúng chỉ có tác dụng là những thứ bánh vẽ. Chúng không làm no bụng ta được. Càng say mê theo bánh vẽ, ta chỉ càng chết đói khô mà thôi. Muốn được no bụng, không gì hơn là ta phải đích thực làm ra bánh thiệt và phải ăn cho được bánh thiệt. Đó là thái độ khôn khéo nhứt của người biết thưởng thức. Hãy sống với thực tế. Xin đừng bắt bóng viễn vông mà sau rồi ăn năn không kịp. Chỉ có dẹp trừ phiền não, mới cứu thoát được đời ta. Ngoài ra, chỉ là những kẻ nói suông ăn bánh vẽ mà thôi. Nương bánh vẽ để làm ra bánh thiệt Bánh thiệt kia đã có sẵn trong ta Tại sao ta chẳng chịu làm ra? Để cứ nói ăn toàn bánh vẽ Ăn bánh vẽ có no chăng nhỉ? Hay rốt rồi bụng đói trơ gan Nghĩ cười nôn đếm bạc thế gian Rốt cuộc lại mình không đồng điếu Khác gì kẻ nghèo hèn túng thiếu Mà trong mình mang sẵn báu châu Cứ mãi lo tìm kiếm ở đâu đâu Mà không biết hạt châu trong túi áo!...

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 96 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?