Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy, Phật dạy tại Pubbàràma, liên quan đến Trưởng lão Đại ca chiên diên. Đại ca chiên diên là một trong mười đệ tử lớn của Phật. Tại sao Phật dạy pháp cú nầy? Lý do là vì, Ngài Đại ca chiên diên, nhờ nhiếp phục các căn một cách nghiêm mật, mà được trời Đế Thích kính trọng và khen ngợi. Do đó, các vị Tỳ kheo khác thấy thế sanh tâm bất bình không hài lòng, buông lời trách móc, nên Phật mới dạy như thế. Đọc qua pháp cú trên, ta có thể đặt vấn đề ngược lại: sở dĩ hàng nhơn thiên kính mộ một vị A la hán, là bởi vì, vị nầy đã nhiếp hộ các căn và không còn phiền não ngã mạn. Ở đây, Phật cho chúng ta thấy việc quan trọng của người tu hành. Vấn đề nhiếp hộ sáu căn là một vấn đề tối hệ trọng của người tu. Trong Kinh A Hàm, Ngài Phú Lâu Na xin Phật chỉ dạy cho một câu vắn tắt ngắn gọn, để Ngài đến một nơi yên tĩnh ứng dụng tu hành. Phật chỉ dạy một câu thật ngắn gọn đó là: “Ông nên nhiếp hộ sáu căn, như người giữ thành trì”. Không còn lời dạy nào ngắn gọn hơn và đầy đủ ý nghĩa như thế. Cũng chính qua lời dạy nầy, ta mới thấy được yếu lý của sự tu. Người tu hành, dù hành giả đã chọn tu bất cứ pháp môn nào, mà muốn được giải thoát khổ đau, trong hiện tại cũng như mai sau, thì không thể nào xem thường vấn đề nầy. Vì vấn đề nhiếp hộ sáu căn, nó thông cả giáo lý Nguyên thủy (Tiểu thừa) và Phát triển (Đại thừa). Cả hai hệ giáo lý đều rất quan tâm và chú trọng đến. Vì sao nó quan trọng đến thế? Bởi trong cuộc sống hằng ngày, không lúc nào chúng ta không dùng sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Chỉ trừ lúc chúng ta nằm ngủ. Vậy sáu căn tiếp xúc với sáu trần như thế nào? Sáu căn tiếp xúc Sáu trần Mắt thấy Sắc Tai nghe Tiếng Mũi ngữi Mùi Lưỡi nếm. Vị Thân chạm Xúc Ý duyên Pháp trần Chính sáu căn nầy, hằng ngày chúng ta tiếp xúc với trần cảnh như thế. Nhưng, nếu chúng ta không nhiếp phục gìn giữ ở nơi sáu căn, cứ để cho nó chạy theo dính mắc ở nơi sáu trần, từ đó mà sanh ra biết bao nhiêu điều phiền lụy. Bởi thế, trong Kinh thường nói là Lục tặc. Tức sáu đứa giặc hằng ngày chúng nó quậy phá chúng ta không một lúc nào yên. Trong Kinh Phật dạy: “luân hồi hay giải thoát cũng từ nơi sáu căn mà ra”. Khi còn là phàm phu, thì chúng là Lục tặc. Nhưng khi lên thánh vị, thì chúng là Lục thông. Khi ở địa vị Thánh, thì không còn gọi là sáu trần nữa, mà gọi chúng là sáu cảnh. Tại sao? Bởi vì nói trần là vì chúng ta còn nhiễm trước. Nếu khi chúng ta tiếp xúc với chúng mà không sanh tâm đắm nhiễm, thì chúng không phải là trần. Vì chúng không phải là thứ gây ra phiền não. Thế nên, cùng một sự vật, mà trần hay cảnh là tùy theo cái nhìn của mỗi người. Nếu người nào nhìn mà gìn giữ sáu căn không để cho sáu trần lôi cuốn, thì Phật cho người đó là tên kỵ mã khéo điều ngự được ngựa lành. Bằng ngược lại, thì không phải là người khéo điều ngự được ngựa. Chẳng những không điều ngự được ngựa, mà còn bị ngựa dày xéo dẫm đạp làm cho thân thể của người đó bị nát nhừ đau điếng. Thiền Sư Bổn Tịnh có bài kệ dạy chúng: Kiến văn giác tri vô chướng ngại Thinh hương vị xúc thường tam muội Như điểu không trung chỉ ma phi Vô thủ vô xả vô tắng ái Nhược hội ứng xứ bổn vô tâm Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại. Dịch: Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại Tiếng mùi vị chạm thường tam muội Như chim trong không mặc tình bay Không thủ không xả không thương ghét Nếu hội mỗi nơi vốn không tâm Mới được tên là Quán Tự Tại. Bởi nhận thấy tầm mức quan trọng rất lớn của việc nhiếp phục sáu căn trong việc tu hành hằng ngày như thế, nên một Thiền Sư cư sĩ đời Trần là vua Trần Thái Tông đã sáng tác bài khoa nghi Sám hối lục căn. Bài sám hối nầy, Thiền Sư viết trong Khóa Hư Lục mà hiện nay ở các thiền viện thuộc hệ Thiền tông của Hòa Thượng Thanh Từ hướng dẫn chỉ giáo đều sám hối theo nghi thức của sám pháp nầy. Tại sao phải sám hối sáu căn? Vì theo cái nhìn riêng của các Thiền Sư cũng như cái nhìn chung của Phật giáo, bất luận tông phái nào, cũng đều bảo chúng ta phải tu ở nơi sáu căn. Một người tu hành mà không gìn giữ ở nơi sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần, thì không thể nào có sự an vui giải thoát được. Bởi vậy, pháp cú trên, Phật nhấn mạnh và ca ngợi sự nhiếp hộ sáu căn của Tôn giả Đại ca chiên diên. Một người nhiếp hộ cẩn mật như thế, thì làm gì có phiền não. Phiền não không có, thì làm gì có ngã mạn. Có ngã mạn là vì còn chấp ngã. Căn, Trần, Thức không còn cấu kết với nhau trong chiều hướng tạo nghiệp, thì mọi khổ đau ngang đây đều chấm dứt. Như thế, thì Niết bàn hiện thực ngay trong cuộc đời, chớ có tìm đâu xa. Hãy tìm Niết bàn ở nơi sáu căn của mỗi người. Giây phút nào mà sáu căn của chúng ta không bị dính mắc phân biệt xấu tốt, phải trái v.v. ở nơi sáu trần, thì ngay giây phút đó chúng ta có an lạc Niết bàn rồi. Người tu học Phật không nắm vững yếu lý nầy để ứng dụng tu hành, thì đó là một điều khuyết điểm rất lớn. Mọi người nên ghi nhớ pháp cú Phật dạy nầy mà tu hành. Nếu chúng ta cố gắng thường xuyên áp dụng như thế, thì con đường giải thoát không hẹn mà chúng ta cũng vẫn tới. Bằng ngược lại, thì con đường giải thoát sẽ mờ xa diệu vợi. Trong Tín Tâm Minh, Tổ Tăng Xán Có dạy: Dục thú Nhứt thừa Bất ố lục trần Lục trần bất ố Hoàn đồng chánh giác. Nghĩa là: Muốn đến nhứt thừa Chớ ghét sáu trần Sáu trần chẳng ghét Hoàn đồng chánh giác. Bài kệ nầy ý nghĩa rất là sâu sắc. Thường chúng ta có hai quan niệm: một là thương, hai là ghét. Thương thì thích, ghét thì chán. Người tu còn thương còn ghét, thì đó là đầu mối của phiền não khổ đau. Thế nên, ở đây, Tổ dạy, người tu muốn được giải thoát, phải bỏ hai quan niệm đó. Tại sao mình phải ghét sáu trần? Chúng nó phạm tội gì? và xâm phạm gì đến danh dự của mình? Ghét hay thương là ta tự hỏi lại ta, chớ ta không nên đổ lỗi cho chúng. Tại sao cùng một vật thể, mà có kẻ ghét, người thương? Nếu ta bỏ được hai quan niệm thương và ghét nầy, thì tức khắc, ta sẽ hoàn đồng chánh giác, tức ngay đó là Phật rồi, chẳng cần tìm kiếm đâu xa nữa.
Thiền sư AI
Trực tuyến