Chú giải chi tiết
Theo truyện tích kể lại, pháp cú nầy, Phật dạy có liên quan đến Tôn giả Belattthisìsa. “Tôn giả Trưởng lão nầy thấy việc khất thực hằng ngày phiền toái. Sau khi đi một vòng khất thực trong làng, ông thọ thực, rồi lại đi khất thực tiếp qua con đường khác, nhận cơm không có nước xốt hay cà ri, mang về tinh xá cất để dành. Nhập định được vài ngày, đói bụng ông lấy ra dùng. Các Tỳ kheo biết được phàn nàn với Thế Tôn. Phật bèn công bố luật cấm chư tăng tích trữ thức ăn. Nhưng vì Trưởng lão nầy phạm lỗi trước khi chế luật nên vô tội”. Nhân đó Phật nói pháp cú nầy. (Trích nguyên văn Tích truyện pháp cú tập II, Viên Chiếu, trang 50) Đọc qua pháp cú trên, ta thấy có ba vấn đề, Phật nêu ra rất quan trọng, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu khái lược qua: 1.Tại sao Phật dạy một vị A la hán không được chất chứa tài sản? Tài sản là mối họa hại. Nó là hiện tướng của lòng tham. Vì lòng tham con người phải tìm đủ mọi cách để chiếm hữu. Người đời, vì tài sản mà họ tranh giành cấu xé với nhau chí tử. Họ bất chấp thủ đoạn thanh toán lẫn nhau. Cha con có thể giết nhau. Ngược lại, người xuất gia thì có khác. Người xuất gia thời Phật, như chúng ta đã biết, tài sản của các Ngài chỉ là ba lá y và một bình bát. Nếu có thêm, thì chỉ có một số dụng cụ lặt vặt như dao cạo tóc, tọa cụ, vải lược nước và kim chỉ để may vá v.v. Ngoài ra, các Ngài không được cất chứa bất cứ những thứ gì khác. Lý do, vì đời sống của các Ngài là đi khất thực. Đã sống cuộc đời hành khất rày đây mai đó, không có chỗ nơi nhứt định, thì thử hỏi tạo tài sản của cải để làm gì. Phật biết rõ, những thứ vật chất tài sản là những sợi giây trói buộc con người, nhứt là đối với người xuất gia. Sống đời vô sản khỏi phải hệ lụy phiền hà. Từ đó dễ đối trị lòng tham. Vì lòng tham lam của con người không có cơ hội phát triển. Càng có tài sản nhiều, thì càng hệ lụy phiền toái nhiều. Điều nầy không thể nào tránh khỏi. Đọc câu chuyện trên, ta thấy thật cảm thương cho vị trưởng lão. Chỉ cất chứa một ít đồ ăn, không phải thứ cao lương mỹ vị gì, nước xốt cà ri còn không để vào, thì thử hỏi có thứ gì là ngon đâu? Cà ri là thức ăn chính của Ấn Độ mà Ngài còn không để vào bát. Thế thì, ta biết các Ngài ăn kham khổ đến mức độ nào! So với vật thực thời nay thì sao? Chắc là khỏi phải nói. Cất chứa thức ăn của Đàn việt dâng cúng để tạm nuôi sống qua ngày tu hành, mà Phật còn cấm như thế, thử hỏi, còn những thứ khác thì sao? Chắc chắn đối với các Ngài thì không bao giờ có. Như vậy không giải thoát sao được. Bởi có gì quý giá để sanh tâm tham đắm đâu. Ngày nay, đối với các nước Phật giáo Nguyên thủy, thì các tăng sĩ vẫn còn giữ truyền thống khất thực như thời Phật. Tuy nhiên, vấn đề không cất chứa tài sản, như thời Phật e rằng rất khó. Bởi những nhu cầu thời đại ngày nay có khác. Giới luật của những vị nầy, so với tăng sĩ Phật giáo Phát triển (Đại thừa) thì có phần nghiêm nhặt hơn, ít ra, cũng trên phương diện hình thức. Đối với Phật Giáo Đại thừa, việc sinh hoạt trong các tự viện khác hơn thời Phật nhiều lắm, nếu không muốn nói là hoàn toàn. Lý do của sự biến đổi nầy, theo các nhà Đại thừa, thì cần phải thích nghi với thời đại. Việc thích nghi thời đại là điều cần thiết và hợp lý. Nhưng đứng trên phương diện giới luật mà nhận xét, thì ít nhiều gì chúng ta cũng đã đi quá đà, nhứt là vấn đề tạo mãi tài sản. Dù viện dẫn bất cứ lý do gì, ta cũng thấy nó là một trong những nguyên nhân gây ra sự tệ hại trong tăng đoàn. Chính sự tạo mãi nhiều tài sản, mang tính cách đầu tư thương mãi kinh tế để được có nhiều lợi nhuận cho cá nhân mình thụ hưởng, thì đây là một việc làm phải nói khác xa thời Phật quá chừng. Nếu đầu tư vì đáp ứng nhu cầu kinh tế tự túc cho tăng chúng có đủ phương tiện tu học, thì việc làm đó thật đáng kính và đáng ủng hộ tán dương. Bằng ngược lại, thì đó là điều trái luật Phật chế và làm giảm mất thanh danh giá trị tăng đoàn rất nhiều. Đó là một thực trạng mà đã và đang xảy ra. Nói lên điều nầy, để chúng ta ý thức cẩn trọng trong việc tu hành theo lời Phật dạy nếu chúng ta muốn thật sự tu hành để giải thoát. Bởi vì giữa giải thoát và ràng buộc nó là hai phạm trù đối nghịch nhau. Hễ có cái nầy thì không có cái kia. Ngẫm kỹ lại, thời Phật có đủ cơ duyên giải thoát rất lớn. Nhờ vào oai đức lớn lao của Phật và nhờ vào sự bảo hộ chặt chẽ của tăng đoàn, nên việc tu hành thật mau kết quả giải thoát. Đối với thời đại chúng ta ngày nay, những yếu tính đó đã không có. Có chăng, chỉ trên chút hình thức và quá hời hợt. 2. Thế nào là biết rõ mục đích của sự ăn uống? Câu nói “ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn” tự nó đã có một giá trị hạn chế lòng tham ăn của con người. Người đời thường nói: “tham thực cực thân”. Thật vậy, con người cũng vì muốn ăn cao lương mỹ vị cho béo bổ xác thân mà ngày đêm phải lao tâm mệt xác. Làm trối chết để cung phụng cho xác thân. Có lắm người vì tham ăn món ngon vật lạ, mà ra tay giết hại sinh vật không một chút từ tâm. Thật là đáng ghê sợ! Ngược lại, đối với người tu hạnh giải thoát, Phật dạy, nên biết rõ mục đích của sự ăn uống. Mục đích của sự ăn uống là gì? Có phải ăn uống cho nhiều để nuôi vóc thân hư huyễn nầy ngày càng cho béo bổ phì nộn hay không? Chắc không ai trả lời là phải. Vì ngày nay, thân thể ai càng béo phì, thì người đó càng cảm thấy đau khổ, chớ không sướng ích gì! Người tu càng tiết chế ăn uống chừng nào, thì càng lợi ích chừng nấy, lợi ích trên mọi phương diện, lợi ích trong sự tu học. Nói tiết chế, chớ không phải khổ hạnh. Chúng ta cần biện biệt điều đó. Không nên hiểu lầm lời Phật dạy. Ở đây, Phật không nhằm thức nhắc chúng ta về mặt ăn uống cho phù hợp với vệ sinh hay kiêng cữ chọn lựa thức ăn. Vì thức ăn mỗi thời, mỗi nước có khác. Tùy theo tập quán và truyền thống ăn uống của mỗi quốc gia. Nhứt là trong thời đại kỹ nghệ tân tiến ngày nay, việc ăn uống so với thời Phật khác xa. Gạt ngoài những điều kiện nói trên, ở đây, Phật nhằm bảo người xuất gia nên phải biết ăn uống vừa đủ. Ăn để mà có thêm sức khỏe tu học. Không nên có tâm tham đắm. Vì tham đắm là trái với hạnh người tu. Ăn là một nhu cầu cần thiết đáp ứng cho cơ thể về mặt sinh lý. Nhưng đừng vì thế mà quên lãng cái căn bản của sự tu học. Đừng vì miếng ăn mà tranh giành với nhau làm mất đi phẩm giá cao thượng của người tu. Trong năm phép quán tưởng của người xuất gia, khi thọ thực Phật Tổ đã dạy rất kỹ. Nhứt là điều phép quán thứ năm “ăn là vì thành đạo nghiệp, nên mới thọ cơm nầy”. Ăn vì muốn sớm thành tựu đạo quả, chớ không phải ăn vì nuôi lớn vóc thân. Đó là lời cảnh tỉnh thiết yếu cho chúng ta trong mỗi khi thọ thực. Chúng ta cần phải nhớ rõ điều nầy. 3. Thế nào là tự tại đi trong cảnh giới “không, vô tướng, giải thoát?” Đây là một vấn đề thật khó hiểu và cũng thật hệ trọng trong việc thật hành. Người tu, muốn được tự tại qua lại trong thế giới hiện tượng đầy cám dỗ của vật chất, không phải là chuyện dễ dàng. Nên ở đây, Phật dạy, mỗi người phải trang bị cho mình đầy đủ ba yếu tố: không, vô tướng, và giải thoát. Thế nào là không? Chữ Không ở đây, chúng ta chớ vội hiểu chữ không đối lại với có. Mà Không ở đây, nó có nghĩa là tánh không của các pháp. Vạn vật do duyên hợp mà thành hình. Đã do duyên hợp, tất nhiên, các pháp chỉ là giả tướng. Trên mặt hiện tượng thì giả có, trên mặt bản thể, thì không. Nói gọn, thực thể của các pháp là không. Thí dụ cái đồng hồ chẳng hạn. Ai dám bảo cái đồng hồ là không có. Nếu không có, thì tại sao ta biết được giờ khắc để đánh kẻng. Ta không thể phủ định là không có. Nhưng sự có mặt của đồng hồ, chỉ là giả có. Nó chỉ có tạm thời, nói theo lý vô thường. Nói theo lý vô ngã, thì thực thể của nó là không, mặc dù nó đang chạy tít tắt từng giây phút. Sở dĩ nó hoạt động như thế là vì do nó có đủ duyên. Khi không đủ duyên, thì nó không còn hoạt động bình thường nữa được. Chữ “Không” nầy là chữ không của Bát nhã. “Tánh của các pháp là Không”. Thế nào là Vô tướng? Vô tướng là không có cái tướng chơn thật. Tuy không có tướng chơn thật, nhưng mọi sự vật trên đời không phải là không. Tất cả đều có hình tướng sai khác. Nhưng những hình tướng nầy, chỉ là tướng không rỗng tuếch, không có cái tướng thật. Thí dụ, thân tướng mỗi người chúng ta, tuy có mập ốm, cao thấp khác nhau, nhưng tánh chất của mỗi người đều giống nhau. Tất cả đều do 4 yếu tố tứ đại kết hợp mà thành. Thế nào là giải thoát? Nhận hiểu vạn vật chỉ là huyễn ảo, tánh của nó là không. Nên chúng ta không sanh vọng tâm chấp trước. Do không chấp trước mà tâm ta được an vui giải thoát. Nói theo yếu lý của nhà thiền, thì tâm cảnh không đến với nhau, chính ngay đó là giải thoát. Như vậy, giải thoát không tìm đâu xa, chính ngay nơi các pháp hiện tiền mà tâm ta không nhiễm trước, thì ngay đó là giải thoát rồi. Bởi vậy, câu cuối cùng Phật nêu ra một hình ảnh thí dụ cụ thể là như: “chim bay giữa hư không, khó tìm thấy dấu vết”. Làm sao tìm thấy được dấu vết của chim? Tuy không có dấu vết của chim mà bầu trời vẫn có. Cũng vậy, mọi hiện tượng của cuộc đời đều hiện bày nhan nhãn trước mắt chúng ta, nhưng nếu chúng ta không để tâm dính mắc vào bất cứ một thứ gì, thì có khác nào như chim bay ngang qua bầu trời mà không có để lại dấu vết gì cả. Mong sao, mỗi người chúng ta nên bắt chước hình ảnh của con chim kia tự tại thong dong bay trong bầu trời mà không vướng mắc thứ gì. Đó là một hình ảnh siêu thoát vô cùng.
Thiền sư AI
Trực tuyến