Chú giải chi tiết
Pháp cú trên, Phật đưa chúng ta trở về với đời sống hiện thực. Nếu chúng ta muốn có được một cuộc sống an vui hạnh phúc ngay trong lòng cuộc đời nầy, thì chúng ta không thể nào xem thường, thờ ơ xao lãng lời Phật dạy. Để có một nhận định rõ hơn, chúng ta sẽ chia pháp cú trên ra từng vấn đề nhỏ để tìm hiểu: 1. Chính tâm tu tập các pháp giác chi. Chính tâm là tâm ngay thẳng. Đã tu, thì không thể dùng tà tâm. Trong đạo Phật không chấp nhận tà tâm. Vì tà tâm, tự nó đã là bất chánh, sa đọa. Cho nên, Phật dạy, khi tu, ta phải sử dụng chánh tâm để tu. Kinh Duy Ma Cật nói: “Trực tâm tức thị đạo tràng”. Người có tâm ngay thẳng, thì nơi nào đối với họ, cũng là đạo tràng cả. Vì đạo tràng là thanh tịnh. Đem tâm thanh tịnh mà tu tập các pháp thanh tịnh, thì mới có kết quả. Trong đạo Phật có vô lượng pháp môn tu. Pháp môn nào cũng nhằm mục đích hướng dẫn hành giả thẳng đến Phật quả. Đó là mục tiêu tối hậu nhắm tới của người tu. Tuy nhiên, muốn thẳng đến mục tiêu đó, Phật dạy có nhiều cách tu để chúng ta lựa chọn. Thất giác chi hay Thất Bồ đề phần là một trong muôn ngàn pháp tu của Phật giáo. Pháp tu nầy, Phật chỉ dạy cho hàng Thanh Văn. Nó là một trong 37 phẩm trợ đạo, thuộc Đạo đế. Nói dạy cho Thanh Văn, kỳ thật nó cũng là nền tảng cho Đại thừa. Vậy, Thất giác chi là gì? Chúng gồm có bảy thứ: 1. Trạch pháp. 2. Tinh tấn. 3. Hỷ. 4. Khinh an. 5. Niệm. 6. Định. 7. Xả. Bảy thứ nầy, khi hành trì, nó có sự liên hệ với nhau rất chặt chẽ. Trạch pháp, là lựa chọn một pháp môn để tu hành. Như trên đã nói, pháp môn Phật dạy tuy nhiều, nhưng chúng ta cần phải lựa chọn cho thật kỹ. Đây là một điều rất hệ trọng cho việc tu hành của chúng ta. Sau khi đã dùng trí huệ lựa chọn kỹ càng rồi, kế tiếp, chúng ta phải tinh tấn. Có tinh chuyên tu hành, thì chúng ta mới có kết quả tốt. Cái kết quả của bước đầu, là chúng ta có được một niềm hỷ lạc nhè nhẹ thoải mái êm dịu trong tâm. Tâm chúng ta sẽ bớt dần những rối rắm, bức bách khó chịu. Đó là nhờ sự nỗ lực chuyên cần tu hành của chúng ta. Khi tâm thức của chúng ta cảm thấy được nhẹ nhàng tươi mát, thì đó là chúng ta có được trạng thái khinh an. Khinh an là một trạng thái có thật, chớ không phải mơ hồ. Điều nầy, nếu ai đã từng có những giây phút thiền quán hay niệm Phật, thì họ có một chứng nghiệm rất rõ ràng. Chỉ trừ phi những ai tu lơ là, không thiết thiệt hành trì, tất nhiên là không có. Muốn kéo dài hoặc muốn có được thường xuyên những giây phút an lạc nhẹ nhàng nầy, tất nhiên, là chúng ta phải hằng nhớ đến pháp mình đang tu. Chúng ta nhớ một cách liên tục. Càng tập trung tư tưởng nhớ đến chừng nào, thì chúng ta lại càng có sức định nhiều chừng nấy. Như ta tha thiết nhớ đến danh hiệu Phật, miệng niệm, tâm gắn chặt vào tiếng, không cho hở ra, tất nhiên, tâm ta sẽ được an định. Điều quan trọng nên nhớ, muốn có được sự an định đó lâu dài, là ta cần phải buông bỏ mọi dính mắc ở nơi trần cảnh (xả). Nhứt là đừng khởi tâm kẹt dính vào pháp môn mình đang tu. Bởi dính mắc vào bất cứ điều gì, cũng là một chướng ngại lớn cho việc tu hành. Làm đâu bỏ đó, không để tâm chấp trước bất cứ điều gì, đó là một thái độ rất khôn ngoan trong việc tu hành của chúng ta. Và như thế, chắc chắn là chúng ta sẽ dễ dàng tiến đến thành công. 2. Xa lìa tánh cố chấp Cố chấp là một chứng bệnh trầm trọng của con người. Mọi sự đau khổ của con người bởi do tính cố chấp mà ra. Cố chấp là con đẻ của bảo thủ và định kiến. Người có tánh cố chấp, lúc nào họ cũng bảo thủ ý kiến của họ. Dù ý kiến họ sai, việc làm không đúng, nhưng họ vẫn cố chấp tới cùng. Họ là người không bao giờ biết hối cải sửa sai. Người như thế, thì thử hỏi làm sao họ tiến bộ cho được. Từ tánh cố chấp, họ nhìn đời một cách cao ngạo. Họ thấy mọi người đều sai, chỉ có họ là đúng. Giống như tâm trạng của Khuất Nguyên: “Đời đục cả chỉ mình ta trong”. Người tu hành mà mang nặng tánh cố chấp nầy, thì con đường giải thoát đối với họ rất là xa xôi diệu vợi. Muốn được giải thoát, thì phải dẹp bỏ cái bệnh trạng nầy. Phật dạy, người tu phải xa lìa tánh cố chấp. Hoa giải thoát không bao giờ mọc lên trong khu vườn cố chấp bảo thủ. Hoa giải thoát chỉ mọc và nở rộ trong khu vườn “hỷ xả” mà thôi. Theo lời Phật dạy, ta phải quyết chí vươn lên tiêu diệt cái tánh xấu nầy, vì chính nó sẽ làm trở ngại lớn trên bước đường tu tiến của ta. 3. Rời bỏ tâm nhiễm ái “Niệm bất nhứt bất sanh Tịnh độ, ái bất nhiễm bất sanh Ta bà”ø. Nhiễm ái là cội gốc của đau khổ. Muốn dứt khổ, ta phải dứt trừ ái nhiễm. Ái nhiễm là con đẻ của bản ngã. Đây là loại nguy hiểm nhứt. Thật khó trừ khó đoạn. Cuộc đời nầy tràn đầy đau khổ, nguyên nhân cũng do ái nhiễm mà ra. Vì ái ngã, mới tìm đủ mọi cách để bảo vệ và lo lắng cho nó được sung sướng. Rồi đến ái luyến người thân và mọi vật liên hệ mật thiết với ta. Bởi do lòng ái nhiễm nặng, nên không bao giờ thoát khỏi cõi Ta bà nầy. 4. Diệt hết mọi phiền não, để trở nên sáng suốt Trăng Phật tánh bị lu mờ, vì bị mây mù phiền não che ngăn. Dù vẫn biết, ánh trăng lúc nào cũng vẫn sáng. Muốn cho ánh sáng hiển lộ, thì phải phá tan mây mù. Mây mù phiền não che mờ trí giác ta. Ta bị khổ đau truyền kiếp cũng chỉ vì nó. Nhưng bản chất của mây là giả dối không thật. Tuy nó dầy thật, nhưng nó cũng dễ tan biến. Nếu ta dùng ánh sáng trí tuệ chiếu soi, thì nó sẽ tan biến ngay. Bởi vì: “Vô minh thật tánh tức Phật tánh” (Chứng Đạo Ca). Dụ như, căn nhà dù bỏ hoang bóng tối lâu năm, nhưng chỉ cần một ngọn đuốc soi vào, thì bóng tối kia sẽ tan biến ngay. Phiền não cũng thế. Điều quan trọng là ta có ngọn đuốc trong tay hay không? Cho nên, đối với người tu, không sợ bóng tối phiền não mà chỉ sợ không có ngọn đuốc trí tuệ. Muốn diệt hết phiền não, để cho tâm ta trở nên sáng suốt, đúng như lời Phật dạy ở trên, không phải một sớm một chầy, hay một ngày một bữa mà ta có thể dứt hết được. Tất nhiên, điều nầy, nó đòi hỏi ta phải bền chí tu hành. Giống như lau bụi nói ở trên. Gương lòng của chúng ta bị bụi bám lâu ngày, vì bỏ lâu quá không lau, nay ta biết được giá trị của cái gương đó, nên ra sức lau chùi, quyết định có ngày gương kia sẽ hết bụi mà thôi. Điều quan trọng đáng nói ở đây là, ta có bền chí và thiết thiệt lau hay không? Hay là một ngày lau, năm, ba ngày nghỉ, như thế, thì gương kia không biết đến bao giờ mới hết bụi. 5. Sẽ chứng Niết bàn ngay trong đời hiện tại Kết luận của pháp cú nầy, Phật cho chúng ta thấy rõ sự lợi ích của việc tu hành có kết quả ngay trong thực tế. Do đâu Phật nói như thế? Do Phật lấy bản thân của Phật cũng như của tất cả những vị đệ tử của Ngài để chứng minh. Thật vậy, Phật và đệ tử của Ngài thành tựu đạo quả ngay trong cõi đời nầy. Không mơ ước ở một cảnh giới nào xa xôi. Có tu là có giải thoát. Như nói có ăn là có no. Có học là có biết chữ. Trừ những kẻ muốn no bụng mà không ăn. Chẳng những không ăn, mà tối ngày họ chỉ mơ mộng thức ăn. Cứ mơ tưởng những thức ăn xa xôi ở nơi đâu, mà thực tế là bụng vẫn đang đói. Dù đói, cam chịu, nhưng thức ăn hiện tại thì họ không bao giờ ngó đến. Người như thế, thì thử hỏi làm sao họ no bụng cho được. Thế thì trách ai đây? Phật đã cho chúng ta quá đầy đủ thức ăn. Chỉ cần ta chọn lựa cho đúng thức ăn hạp với khẩu vị của ta và rồi ăn ngay, thì sẽ có kết quả no bụng. Đó là một thực tế. Đạo Phật là thực tế như thế. Người ta thích đến với đạo Phật, bởi do đạo Phật rất tôn trọng sự thật. Không huyền đàm viển vông, hứa suông, hứa cuội. Phật tu Phật thành. Đệ tử tu, đệ tử thành. Ta tu ta thành. Quả đúng với câu: “ai tu nấy thành, ai hành nấy đắc”. Chỉ cần mọi người nỗ lực tha thiết chuyên cần tu hành, đúng theo lời Phật dạy, phù hợp với căn cơ của mình, tất nhiên là sẽ có kết quả tốt đẹp ngay. Bởi đó là một định luật nhân quả, bất di bất dịch. Ta tu theo Phật mà không tin chắc vào nhân quả Phật dạy, vậy thử hỏi ta tin cái gì? Bởi căn cứ theo luật nhân quả, nên Phật nói một cách khẳng định rằng: “người nào hết phiền não, thì người đó sẽ được Niết bàn”. Như vậy, Niết bàn chính trong tầm tay của mỗi người chúng ta. Xin đừng tìm “Niết bàn” ở một nơi nào khác. Người nào còn có tâm vọng động muốn đi tìm Niết bàn ở một cảnh giới xa xôi nào đó, thì người đó không phải là người tu theo đạo Phật. Và tệ hơn mữa chỉ là kẻ mò trăng dưới nước hay bắt bóng mà thôi. VII. Phẩm A La Hán (Arahantavagga)
Thiền sư AI
Trực tuyến