Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật nhắm thẳng vào người xuất gia để răn dạy. Người xuất gia là người từ bỏ tất cả thế gian. Nói đến những vật chất thế gian không ngoài ngũ dục, lục trần. Tài, sắc, danh, thực, thùy, đó là những thứ mà không ai thoát khỏi. Người đời bị đắm chìm trong những thú vui nầy. Nhưng họ quên rằng:”Thú vui chỉ mở đường cho đau khổ, hay vui trong chốc lát mà khổ sầu ngàn năm”. Với cái nhìn của người giác ngộ, thì những thứ nầy, chỉ đem lại cho con người thêm đau khổ mà thôi. Các Ngài xem đó là những thứ hư danh như đôi dép bỏ. Người thế gian, vì không nhận rõ bản chất khổ đau của chúng, nên họ đua nhau tranh giành chiếm đoạt. Phật cho họ là những kẻ đang tắm mình trong ao tù ngũ dục. Họ không có một niệm nhàm chán để cầu thoát ly. Ngược lại, người xuất gia chúng ta (chỉ nói nhỏ trong phạm vi chúng ta thôi) khi đã cạo đầu là đã tự nguyện với lòng không bao giờ để tâm vướng bận vào những thứ đó nữa. Khi mới phát tâm, thì nó có một sức mạnh lớn lao như thế. Nhưng khi trải qua một thời gian ở chùa, cái niệm thoát ly ban đầu từ từ yếu dần và cuối cùng đi vào quên lãng vì tâm nhiễm trước thế gian chưa trừ. Trong Kinh Phật nói: “Người xuất gia xa lánh ngũ dục, như kẻ khạc đàm giải ra ngoài. Nếu ai còn vướng mắc vào danh lợi, thì Phật nói, kẻ đó đã khạc ra mà còn liếm trở lại”. Nên tuy sống trong chùa lâu mà tâm ham mê danh lợi vẫn còn. Trong năm thứ dục lạc nầy, ở đây, đức Phật chỉ nêu ra có một thứ thôi. Đó là danh vọng địa vị. Chỉ một thứ nầy, cũng làm cho người xuất gia điên đảo, chớ nói chi đến những thứ khác. Thường danh nó đi đôi với lợi, hễ có danh là có lợi, vì hiểu rất rõ tâm bệnh nầy, nên Tổ Qui Sơn cũng thường răn nhắc. Tổ Qui Sơn nói: Người xuất gia vì ham mê danh lợi mà lỗi đạo. Ngài dạy: “Sao bèn mới lên đàn thọ giới, liền nói rằng ta đây là Tỳ kheo; của đàn việt tiêu xài, ăn dùng của thường trụ. Không biết xét nghĩ của đâu đem đến, cứ nói rằng phép ta nên chịu của cúng, ăn rồi nói chuyện xào xào, chỉ nói những chuyện thế gian bậy bạ. Song một thuở đua vui, nào có biết vui đó là “nhơn” của cái khổ” (Sa Di Luật Giải, Hòa Thượng Hành Trụ dịch). Lời thức nhắc nầy, ngẫm lại, đa số người xuất gia chúng ta đều mắc phải. Có người khi còn là một chú tiểu, tánh tình rất dễ thương. Thấy ai, chú cũng khiêm cung kính chào lễ độ. Trông chú rất hồn nhiên hiền từ. Ai nhìn thấy chú cũng mến thương. Nhưng, sau khi thọ giới Sa di, tánh tình của chú có phần thay đổi. Chú thấy mình khác hơn xưa. Từ đây cái “Ta” của chú cũng bắt đầu xuất hiện. Chú cảm thấy, chú lớn hơn những người chưa thọ giới như chú. Ngày xưa, chú sống hài hòa vui vẻ cùng chư huynh đệ, bây giờ thì có đổi khác. Đối với Phật tử tại gia, chú cũng thấy chú đã hơn họ. Chú muốn mọi người phải cung kính chú. Phật tử thấy chú mà không chào hỏi, chú cho họ là vô phép, thiếu lễ độ. Chú nhìn họ với đôi mắt thiếu cảm tình. Họ nhìn chú cũng thấy khác xưa. Cả hai, từ từ tạo thành hố xa cách. Cái “Ta” của chú xưa kia rất nhỏ, nay bắt đầu xuất hiện lớn dần Thời gian trôi qua, chú đúng tuổi thọ giới Cụ túc. Thầy cho chú ta đến giới đàn để thọ. Thọ xong, chú thấy chú không còn là một Sa di như thuở nào, mà nay chú đã trở thành một bậc thầy của thiên hạ. Ai gặp chú mà lỡ kêu chú bằng chú như dạo nào, thì mặt chú đỏ gay, buồn giận không tiếp chuyện với họ. Hoặc có khi họ gọi chú bằng thầy, lòng chú cũng không mấy vui. Gọi bằng Đại Đức, thì chú cảm thấy vui hơn. Bấy giờ cái “Ta” của chú lớn hơn hồi còn Sa di nhiều lắm. Vì thế, nên Tổ Qui Sơn mới quở: “Sao bèn mới lên đàn thọ giới, liền nói rằng ta đây là Tỳ kheo”. Bệnh nầy, xét kỹ, ít có mấy ai tránh khỏi. Dù biết cái “Ta” là cái đáng ghét, nhưng có mấy ai chẳng bị vướng vào. Vì “chấp ngã” là cái căn bệnh trầm trọng truyền kiếp của chúng sanh. Từ bệnh chấp ngã nầy, nó sanh ra nhiều thứ chứng bệnh tệ hại khác. Có người ít ham tài sắc mà lại háo danh. Miễn sao có được địa vị cao, được mọi người kính trọng nể nang, thì họ rất lấy làm hãnh diện. Một khi đã có địa vị cao, thì theo sau đó là lợi lộc. Cho nên câu kế tiếp Phật nói: “mọi người xin đến cúng dường”. Danh và lợi thường đi đôi với nhau, chúng như cặp bài trùng. Khi có lợi dưỡng rồi, họ bắt đầu quên tu. Càng lúc càng chạy đua theo danh lợi. Bởi thế Tổ Qui Sơn nói: “Của đàn việt tiêu xài, ăn dùng của thường trụ. Không biết xét nghĩ chỗ đâu đem đến cứ nói rằng phép ta nên chịu của cúng”. Một bề tiêu phí của Tam Bảo, không chút hối tiếc. Có người còn cho rằng, mình có phước hơn nên được Phật tử dâng cúng nhiều. Nhưng quên rằng, chúng ta thọ dụng càng nhiều, thì người thí chủ càng thêm lợi lớn (Thọ dụng ân phồn, thí lợi nồng hậu). Tổ quở tiếp: “Ăn rồi dụm đầu nói chuyện xào xào, chỉ nói những chuyện thế gian bậy bạ”. Có lẽ, thời của Tổ, người xuất gia ít bàn chuyện thế sự chánh trị, mà còn bị quở như thế. Nếu Tổ sống ở thời đại nầy, không biết Tổ quở đến bực nào! Chuyện bậy bạ là những chuyện tào lao, toàn những chuyện bù khú của thiên hạ mang ra phê bình chỉ trích. Ít có mấy ai bàn chuyện đạo lý. Câu kế tiếp Tổ cảnh giác: “Song thời một thuở đua vui, nào có biết vui đó là “nhơn” của cái khổ”. Cái vui của ngày hôm nay lại là cái quả khổ của truyền kiếp mai sau. Với người trí, họ quyết tránh nhân thì không có quả. Người xưa nói: Công danh cái thế màn sương sớm Phú quý vinh hoa giấc mộng tràng. Hay: Danh mà chi, lợi lắm mà chi! Của công danh như bọt nước có ra gì Mùi phú quý như vầng mây tan hiệp Sang cho mấy cũng rồi một kiếp Than ôi! Phú quý lợi danh như nước chảy Sắc tài tửu khí tợ mây tan Ngựa xe áo mão không bền bỉ Nhắm mắt hoàn ra đống cốt tàn. Cuối nẻo đường trần, thân ai cũng hoàn ra đống cốt tàn cả. Biết thế, còn ham danh lợi làm gì! Than ôi! “Cái vòng danh lợi cong cong Người mong ra khỏi người trông bước vào. Bước vào tất phải té nhào Bò lăn bò lóc, bò cào tét da. Chúng ta là kẻ xuất gia Bạc tiền chẳng có của nhà cũng không. Lợi danh danh lợi lòng vòng Thoát ra rồi lại lấy còng đeo vô. Đến khi nhắm mắt ô hô! Mọi vật để lại bộ đồ mang theo. Danh lợi chỉ là thứ hư danh hào nhoáng, cuối cùng chính nó đưa ta vào cửa tử. Lịch sử đã chứng minh, có biết bao người tu hành mà còn ham mê danh lợi, địa vị cao sang, cuối cùng, bị hậu quả chuốc lấy thảm họa đau thương! Như trường hợp Ngài Ngộ Đạt Quốc Sư do vua Ý Tông ban cho Ngài bửu tòa bằng trầm hương, cao hơn hai trượng để Ngài thuyết pháp. Vì một niệm móng tâm danh lợi mà phải bị Triệu Thố theo hãm hại đòi mạng. Thọ tòa trầm hương còn tổn phước mà mắc báo như thế, há chẳng đáng sợ lắm sao! Hãy nhìn tấm gương đức Phật và các bậc Tổ sư. Đức Phật đã từ bỏ ngai vàng địa vị giàu sang, để đi xuất gia. Sau khi xuất gia, suốt đời Ngài chỉ có một cái bình bát và ba lá y che thân mang theo mình. Người ta tôn xưng Ngài là người giác ngộ, hoặc Thế Tôn (bậc cao quý trên đời) chớ không tôn xưng Ngài một chức vụ gì khác. Đến hàng đệ tử xuất gia của Ngài cũng thế. Ngày nay, đôi khi chúng ta vì chức vụ mà làm chướng ngại cho sự tu hành của chúng ta rất lớn. Vì chức vụ càng lớn chừng nào, thì cái “Ta” càng cao chừng đó. Đây là một sự thật, ta không thể qua mắt che đậy được người đời. Do Phật từ bỏ tất cả, nhờ vậy, mà ngày nay chúng ta mới được thừa hưởng cái gia tài sự nghiệp vẻ vang của đức Phật để lại. Ở Việt Nam, thời Trần, có Sơ Tổ Trúc Lâm, một vị vua nhà Trần, cũng từ bỏ ngai vàng, địa vị cao sang, quyền uy tột đỉnh, vào núi Yên Tử, tu hạnh đầu đà. Cho đến trọn đời Ngài chỉ đi bộ, không đi xe cộ thuyền bè. Tu như thế, cho đến ngày viên mãn đạo quả. Gương Phật Tổ còn đó, xét lại mình thì sao? Thật đáng tủi hổ lắm thay! Nói thế, không có nghĩa là chúng ta không cần đến chức vụ, vì xã hội ngày nay phải cần như thế. Nhưng chúng ta không nên coi đó là quan trọng. Chúng ta coi đó như là một phương tiện hoằng đạo. Chúng ta đừng để tâm dính mắc vào đó. Đó là thái độ khôn ngoan của chúng ta. Nếu chúng ta ham mê chạy theo danh lợi địa vị, những thứ mà Phật Tổ cho là hư danh đó, thì ta có để lại cái gì cho người sau thừa hưởng? Chả lẽ đời tu của chúng ta chỉ biết có hai thứ: Lợi và Danh không sao? Nếu thế, thì ở ngoài đời, ta thụ hưởng sướng hơn! Ngẫm lại, đời ta có những thứ thật là trái ngược. Khi còn ở ngoài đời thì chán, chạy vào đạo để tu. Khi vào đạo rồi, thì chán tu, chạy theo danh lợi để thụ hưởng. Cứ chạy lòng vòng, cuối cùng bị quỷ vô thường chận hỏi. Khi quỷ vô thường hạch hỏi, bấy giờ mới giật mình thức tỉnh, thì ôi thôi! Đã muộn lắm rồi! Lúc đó, đã cận kề với tử thần rồi, đâu còn thời giờ tu hành gì nữa! Thôi thì xin hẹn kiếp sau Bao giờ khô lệ mới vào chùa tu Bây giờ danh lợi lu bu Đâu còn rảnh rỗi mà tu với hành Bụng làm dạ chịu cam đành Phật Đà dạy kỹ ham danh đáng đời! Chớ than trách Phật trách trời Trách ta vụng dại uổng đời xuất gia!
Thiền sư AI
Trực tuyến