Chú giải chi tiết
Ba pháp cú nầy, Phật dạy cho các thầy Tỳ kheo, khi Phật ở trong một khu rừng với con voi chúa Pàveyyaka. Theo truyện tích, khi Phật ở Kosambi, các thầy Tỳ kheo thường hay xảy ra bất hòa tranh cãi với nhau. Đức Phật giải hòa nhưng không ai chịu nghe theo. Sau đó, Đức Phật bỏ đi vào rừng sâu một mình và Ngài làm bạn với con voi chúa tên là Pàveyyaka. Con voi chúa nầy hầu hạ Ngài rất chu đáo. Trong lúc đó, thì các hàng đệ tử xuất gia và tại gia, họ đều tỏ ra rất lo lắng cho Ngài. Mọi người yêu cầu Tôn giả A Nan cho họ gặp Đức Phật để nghe Phật thuyết pháp. Trước tình thế đó, Ngài A Nan không thể từ chối và rồi Ngài hướng dẫn năm trăm Tỳ kheo đi vào rừng gặp Phật. Khi đến gần khu rừng, Ngài A Nan tự nghĩ, giữa lúc nầy mà ta dẫn năm trăm Tỳ kheo đến, không biết có thích hợp và Phật có chấp nhận cho gặp Ngài hay không. Tốt hơn hết là ta nên đi một mình vào gặp Phật trước. Con voi chúa thấy tôn giả A Nan đến, liền tỏ ra không hài lòng và nó có ý tung vòi tiến tới để quấn lấy tôn giả A Nan, khi ấy Đức Phật bảo: - Hãy lui, Pàveyyaka, đừng xua đuổi người ấy. Đó là thị giả của Như Lai. Voi chúa liền cuốn vòi lại và biểu lộ thái độ lễ phép với ngài A Nan. Sau khi đảnh lễ Phật, ngài A nan liền bạch với Đức Phật rằng, ngài có hướng dẫn năm trăm Tỳ kheo đến để ra mắt Phật, nhưng hiện giờ họ còn chờ đợi ở ngoài rừng. Đức Phật cho phép họ vào. Sau khi đảnh lễ Phật, họ đều bày tỏ nỗi lòng lo lắng trong thời gian Phật sống một mình không có ai chăm sóc cho Phật. Hiểu ý, Phật nói: - Nầy các Tỳ kheo, voi chúa Pàveyyaka đã làm giúp ta tất cả mọi việc. Đươc một người bạn như thế, sống độc cư cũng tốt. Và nếu không có bạn như thế, tốt hơn là nên sống một mình. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện). Nội dung ba pháp cú trên, Đức Phật nhằm nói lên việc kết bạn và sống chung trong tinh thần hòa hợp hỗ trợ cho nhau. Sống ở đời, dù người có khó tánh đến đâu, ít ra cũng phải có đôi bạn để tâm giao. Bạn hiền trí là người có thể giúp đỡ ta qua nhiều phương diện. Khi ta gặp cảnh ngộ hoạn nạn khó khăn hay những lúc ta bị bế tắc đau khổ về tinh thần, thì chính những người bạn hiền tốt sẽ giúp ta thoát qua cơn nguy nan đó. Muốn thế, thì Đức Phật khuyên chúng ta nên giao du và chọn bạn hiền. Nhưng phải là bạn đồng hành hiền trí. Bạn đồng hành có thể là cùng một nghề nghiệp hay cùng một lý tưởng. Như thế, thì tình giao kết giữa ta và bạn sẽ dễ cảm thông nhau hơn. Pháp cú 328, Phật đã khuyên chúng ta như thế. Khi kết bạn để giao du, ta cần phải có sự chọn lựa kỹ càng. Ta nên phân biệt cho rõ qua những người bạn mà ta kết giao. Đối với những người bạn mà ta không coi trọng họ ở một vài phương diện cá tính nào đó, thì ta không nên lân la gần gũi thân cận với họ nhiều. Vì như thế, sẽ không có lợi ích gì cho ta cả. Còn đối với những người bạn mà ta thấy họ đối xử với ta một cách chân tình, không giả dối bề ngoài, không có ý đồ lợi dụng, không tìm cách bôi nhọ nói xấu nhau, đó là những người bạn hiền lương chân thật mà ta nên kết thân. Nhưng dù bạn chí thân đến đâu, ta cũng nên tiếp xử với bạn có giới hạn chừng mực và phải có lòng tôn kính bạn. Sự tôn trọng với nhau, đó là điều ta không nên coi thường, nếu như ta muốn tình bạn qua lại lâu dài. Đừng vì quá thân thiện mà ta không để ý đến lời nói và hành động của ta. Bởi tất cả đều còn là con người trần tục như nhau. Những thất tình, lục dục hỷ nộ ái ố v.v… vẫn còn mạnh bạo và nó hiện ẩn tàng trong mỗi con người. Chính vì còn quá nhiều tham, sân, si phiền não, nên khi giao tiếp với nhau, ta cần phải cẩn trọng. Không nên xem thường quá suồng sã mà sẽ có ngày xa nhau ân hận. Từ bạn chí thân trở thành thù địch, đó là chuyện thường tình ở thế gian. Ta phải cẩn trọng để ý điều nầy. Phật nói đối với những người bạn tốt, bạn hiền, biết cách cư xử, nghĩa là biết người, biết ta, cần giúp đỡ cho nhau, khi bạn bị hoạn nạn. Với hạng người như thế, thì Phật khuyên chúng ta nên hãy vui mừng mà đi cùng họ. Pháp cú 329, Đức Phật nhắc nhở chúng ta: “nếu không gặp được bạn đồng hành hiền lương, giàu trí lự, thì hãy như vua tránh nước loạn, như voi bỏ về rừng”. Bạn đồng hành mà phải hiền lương, hiền lương không chưa đủ mà cần phải có trí tuệ. Người có trí tuệ là người phán đoán nhận xét mọi việc rất sâu sắc. Họ không phải là hạng người bốc đồng nông nổi, nghe đâu theo đó, vui đâu chúc đấy. Đó là hạng người thuộc dạng “ba phải”, ta không nên giao du với họ. Đối với người bạn theo tiêu chuẩn mà Phật nói ở đây, trong xã hội ngày nay cũng không phải dễ kiếm. Ba yếu tố thiết yếu: đồng hành: cùng có chung một lý tưởng phục vụ. Hiền lương: tánh tình chân thật đạo đức, hòa ái, trung hậu. Giàu trí lự: phải có lý trí, khéo biết dung hòa giữa tình và lý trong tương quan nhận thức. Đó là ba yếu tố thiết yếu Phật dạy, khi chọn bạn kết thân, ta cần phải để ý. Pháp cú 330, Đức Phật nhắc nhở chúng ta không nên kết bạn với những hạng người ngu dốt. Trong phẩm Hiền Trí, Đức Phật cũng đã từng dạy chúng ta không nên kết bạn với người kém hèn, mà phải kết bạn với những người lành, có chí khí cao thượng. Đọc lời Phật dạy đây, qua kinh nghiệm bản thân cũng như đối với bạn bè, ta thấy rất rõ khi giao tiếp hay sống chung với những người bạn kém học thức, thiếu suy nghĩ, họ làm cho ta thật nhức đầu bực mình về những ngôn từ và hành động của họ. Gặp phải những hạng người nầy, thì như lời Phật dạy, thà ở một mình còn khỏe trí hơn khi gần gũi tiếp xúc với họ. Như thế, là ta mới thật sự sáng suốt khi chọn bạn để giao du kết thân. Qua những pháp cú trên, chúng ta chỉ tìm hiểu sơ qua về những việc cư xử giao tiếp qua lại thường tình của con người. Nhưng, thật ra, thâm nghĩa Phật dạy không hẳn chỉ có ngần ấy. Nó còn chứa đựng những ý nghĩa thâm trầm hơn. Tìm được một người bạn đồng hành, theo nghĩa lý sâu xa, cũng không phải là chuyện dễ dàng. Một người bạn, hơn nữa là một người thầy giác ngộ tỉnh thức chân lý, giữa thế gian nầy đâu phải dễ tìm. Một người bạn vượt thoát những ước lệ phàm tục, những giáo điều trói buộc, những tập quán thường tình, những tôn giáo nhãn hiệu, những quyền lực cai trị, nói chung, là những pháp thế gian hữu vi sinh diệt, còn nằm trong phạm trù nhị nguyên đối đãi. Có được người bạn như thế, thì chính đó mới thật sự là người bạn mà Phật dạy ta nên kết giao. Còn bằng không, thì chỉ còn có cách là phải đơn thân độc hành sống một mình trong cô đơn. Cô đơn không nằm trong ý nghĩa thường tình mà phải vượt lên trên vô thức. Làm một con người trần trụi buông thỏng hai tay giữa thế giới cuồng nhiệt tranh chấp hỗn loạn của cõi đời nầy. Câu chuyện lược dẫn trên, cho ta thấy, Tăng đoàn thời Phật không phải tất cả đều giữ hòa khí hết. Đối với người lậu hoặc phiền não không còn, thì đương nhiên những việc tranh cãi hơn thua bất hòa không có. Nhưng những vị mới tu, phiền não chưa sạch, tất nhiên không sao tránh khỏi những sự bất đồng. Dù đã được phước duyên lớn sống gần Phật, nhưng không phải việc gì các ngài cũng nghe theo lời Phật dạy hết. Điều nầy cho ta một bài học về giá trị của Lục Hòa. Sở dĩ có chuyện tranh cãi hơn thua, là vì các ngài không nghiêm chỉnh thật hành sáu phép hòa kính. Nếu trong một tăng thân, ai ai cũng tôn trọng giữ gìn Lục Hòa một cách nghiêm túc, thì chắc chắn đảm bảo sẽ không có chuyện tranh cãi phải trái hơn thua xảy ra. Đó là bài học lớn mà chúng ta cần phải quan tâm thật hành. Nhất là, hiện ta đang sống trong đoàn thể tu hành. Nói rộng ra, là trong gia đình, xã hội, quốc gia cũng thế. Khi không dàn xếp được sự tình, Phật liền bỏ đi vào rừng. Sự bỏ đi của Phật không có nghĩa là Phật buồn giận (làm gì có chuyện đó). Nhưng thâm ý của Phật là nhằm thức tỉnh các vị Tỳ kheo tranh cãi nầy. Đó cũng là một phương cách giáo hóa của Phật. Thật vậy, khi vắng Phật, mọi người xôn xao bàn tán và muốn đi tìm gặp Phật. Những vị đó thỉnh cầu Tôn giả A Nan giúp hộ. Dù là một bậc Thầy đáng kính, nhưng khi có mặt thường xuyên răn nhắc dạy dỗ, thì lại bị người ta coi thường. Chính cái niệm coi thường đó, nên gây ra nhiều việc bất ổn không hay. Ở đây, ta thấy sự vắng mặt của Phật thời gian tuy ngắn, nhưng đã gây cho mọi người sanh lòng hối tiếc. Đó cũng là một sự cảnh giác thức nhắc của Phật. Như thế, mới thấy sự hiện diện của Phật thật là vô cùng quý giá. Ngày nay, chúng ta thấy, có nhiều bậc Thầy đáng kính, thỉnh thoảng cũng vắng bóng lánh mặt ở trong chúng một thời gian, vì lý do nào đó xét thấy cần răn nhắc khuyến cáo trong chúng, phải chăng các vị đó cũng học theo phương cách giáo dục của Phật ở đây! Khi các vị đó gặp Phật, Phật đem con voi chúa Pàveyyaka ra để chứng minh. Chính con voi nầy đã giúp hầu Phật đủ mọi thứ. Nhân đó, Phật dạy, sống chung mà không hiểu, thương, cảm thông, giúp đỡ lẫn nhau, thì tốt hơn hết là nên sống một mình.
Thiền sư AI
Trực tuyến