Chú giải chi tiết
Hai pháp cú này, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến một số cư sĩ ngoại đạo. “Có một đám trẻ chơi chung với nhau, con nhà ngoại đạo và con các Phật tử. Khi các trẻ em ngoại đạo về nhà, cha mẹ chúng cấm không cho chào hỏi các Sa môn đệ tử Phật và không được vào tinh xá. Họ bắt chúng phải giữ lời thề. Và sang ngày khác, khi bọn trẻ chơi đùa gần tinh xá Kỳ Viên, chúng bị khát nước. Các trẻ con ngoại đạo phải nhờ một bạn Phật tử vào tinh xá xin nước uống. Em này vào tinh xá, gặp đức Thế Tôn, và kể lại câu chuyện cho Ngài nghe. Phật dạy: - Uống nước xong, các con ra kêu các bạn vào đây uống. Tất cả bọn vào gặp Phật. Ngài kể cho các em nghe một câu chuyện dễ hiểu, giảng pháp, khiến các em có niềm tin vững mạnh rồi khiến các em quy y và giữ giới. Các trẻ em ngoại đạo về nhà, kể chuyện lại cho ba má. Họ giận dữ, khóc lóc rên rỉ: - Con chúng ta đã theo thầy tà. Khi ấy, một người láng giềng có trí tuệ ở gần đó, sang an ủi họ, giảng giải cho họ nghe. Chừng đó, họ nhận thấy Phật pháp lợi ích bèn quyết định: - Chúng ta chỉ cho các con đi theo sự hướng dẫn của Ngài Cồ Đàm. Với bà con dòng họ đông đảo, họ đưa nhau đến tinh xá lễ Phật, nghe pháp. Phật quan sát tâm tư của họ và nói hai pháp cú trên”. (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 183). Pháp cú 318, Phật nói có lỗi hoặc không lỗi, do tâm tưởng điên đảo khởi vọng chấp tà kiến, đó là hậu quả dẫn tới con đường khổ đau. Xã hội loài người sở dĩ khổ đau triền miên cũng chính vì do nhận định bảo thủ lộn ngược đầu này. Trắng họ cho là đen, đen họ cho là trắng, phải họ cho là quấy, quấy họ cho là phải, giả họ cho là thật, thật họ cho là giả vân vân và vân vân. Bởi do nhìn lộn ngược (điên đảo) như thế, nên mới có những thiên kiến cố chấp. Ai cũng thấy mình đúng, người khác sai, từ đó gây nên bao cảnh chiến tranh thù hận chém giết lẫn nhau. Tình thương yêu đồng loại không còn, bởi do vọng tưởng tri giác sai lầm này. Từ cá nhân, gia đình, đoàn thể, xã hội đều tạo nên mâu thuẫn chống đối nhau, tất cả đều do vọng tưởng tà kiến mà ra. Pháp cú 319, Phật dạy rằng: “lỗi biết rằng lỗi, không lỗi biết rằng không lỗi, giữ tâm chánh kiến ấy, đường lành thấy chẳng xa”. Chỉ cần chúng ta thay đổi cách nhìn đúng theo lẽ thật, thì mọi khổ đau sẽ chấm dứt. Có lỗi biết có lỗi, không lỗi biết rõ là không lỗi, đó là chánh kiến thấy đúng sự thật. Khi đã thấy đúng sự thật ở nơi các pháp, thì mọi vọng chấp tri giác sai lầm sẽ không còn. Vọng chấp không còn, thì ngay đó là giải thoát, là chấm dứt khổ đau. Chỉ có con đường chánh kiến mới dẫn hành giả đúng theo lộ trình tiến đến Phật quả mà thôi. Chuyện dẫn chứng trên, cho ta thấy, trẻ em rất hồn nhiên ngây thơ thật là dễ thương. Chúng đùa giỡn vui chơi với nhau rất thân tình. Chúng nào có để tâm phân biệt: “đây là Phật tử, kia là ngoại đạo đâu”. Trước mặt chúng chỉ là những đứa bạn thân thiết vui chơi với nhau mà thôi. Ngoài ra, chúng không có tâm niệm phân chia kia, đây gì cả. Vậy ai là người phân cách tình bạn của chúng nó? Ai là người mang đầu óc bệnh hoạn kỳ thị phân chia ranh giới: đây là ngoại đạo, kia là Phật tử? Ai là người bắt chúng nó phải thề thốt không được chào hỏi các vị Sa môn và vào tinh xá? Ai đó? Phải chăng tất cả đều do những con người mang danh mình là người lớn để tạo ra sự phân chia ngăn cách? Những con người bởi do huân tập những tri giác sai lầm, mang nặng những căn bệnh cận thị, cuồng tín, tà kiến, cố chấp, kỳ thị, nhìn sự vật theo lăng kính chủ quan của mình, nên mới thốt ra những lời cấm đoán đó. Làm cho tình thân trở nên thù hận. Chính con người gây ra làm mất đi giá trị cao đẹp tình người. Đôi lúc chúng ta mang danh là người lớn (chỉ có lớn xác), nhưng nhìn lại, thực chất tâm hồn của chúng ta thật quá nhỏ bé thấp hèn! Vẫn còn mang nặng những bệnh trạng: “ích kỷ, hẹp hòi, kỳ thị, ác ý, thù hận, ganh ghét, chia rẽ, khủng bố, tàn sát”, và luôn luôn hiềm thù chống đối gây khổ đau cho nhau. Chúng ta chưa thật sự mở rộng cõi lòng và chưa thật sự học được bài học tình người: “trong dòng máu cùng đỏ và trong nước mắt cùng mặn”. Ngày nào nhơn loại còn mang nặng những thiên chấp dị biệt, còn nô lệ cho vọng kiến phân chia nhân, ngã, bỉ, thữ, còn ngập chìm trong vòng vọng chấp ý thức hệ nhị nguyên đối đãi, thì ngày đó nhơn loại vẫn còn tranh chấp thù hận gây nên tang tóc khổ đau cho nhau dài dài. Do vọng kiến, nên chúng ta nhìn sự vật méo mó, theo lăng kính “tỷ lượng” và “phi lượng”. Chúng ta chưa thực sự sống với “hiện lượng”. Chúng ta vẫn còn thích mang những cặp kính màu để nhìn sự vật. Quả chúng ta chỉ biết “đùa vui theo sóng mà quên nguồn suối trong”. Nói rõ hơn, là chúng ta chỉ thấy hoa đốm lăng xăng mà quên mất bầu trời trong tạnh. Bầu trời trong lúc nào cũng hiện hữu với chúng ta. Nói cách khác, là chúng ta vốn sẳn có tánh giác sáng suốt thanh tịnh, nhưng khổ thay! vì vọng tưởng điên đảo, như người bị bệnh nhặm mắt, nên chúng ta vẫn còn bị mê lầm không nhận ra được tánh giác. Do đó, mà chúng ta mãi sống trong vòng vọng chấp mê lầm. Đó là đời sống phóng thể quên mất cội nguồn tâm linh. Đạo đức nhân bản ngày càng bị mất gốc, gây nên tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Và đó cũng chính là hệ quả của những cuộc tranh chấp, gây hấn trả thù sát phạt nhau: “giữa quốc gia này với quốc gia nọ, giữa dân tộc này, với dân tộc khác, giữa tôn giáo này với tôn giáo kia, giữa chủ nghĩa này với chủ nghĩa nọ v.v…” Thật chưa biết ngày nào nhơn loại mới thật sự tháo gỡ những cặp kính màu vọng kiến, để thật sự nhìn nhau và thương yêu nhau trong tình đồng loại: Bây giờ rõ mặt đôi ta Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao. Đó là hai câu thơ bất hủ trong Truyện Kiều mà cụ Tiên Điền Nguyễn Du nhằm nhắn gởi kêu gọi thức nhắc chúng ta. Ca dao Việt Nam cũng có câu: Bầu ơi! Thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Nhìn trên mặt hiện tượng, thì ta thấy có muôn vàn sai biệt, nhưng nhìn sâu vào mặt bản thể, thì nào có khác chi đâu. Vì vạn vật đồng nhứt thể kia mà! Có khác chăng chỉ là những giả tướng, giả danh, do con người vọng tưởng giả lập mà thôi. Đó là do thức biến: “Chấp thủ tướng và kế danh tự tướng”. Hơn lúc nào hết, con người hiện đang sống ở thế kỹ thứ 21, “phải là thế kỹ của tình người, của văn minh tân tiến về mặt đạo đức, phát huy phẩm chất làm người cao thượng trong chiều hướng thánh thiện, làm đẹp con người và cuộc đời”. Có thế, thì nhơn loại mới thực sự sống còn và không hổ thẹn với đất trời muôn thuở. Điều đáng cho những người lớn cần lưu tâm học hỏi ở trẻ thơ, đó là đức tánh hồn nhiên và trong sáng. Dù bị ba má chúng cấm đoán nghiêm khắc, nhưng chúng vẫn tìm cách vào tinh xá và gặp được Phật nghe Phật thuyết giảng. Khi hay tin, ba má chúng tỏ ra phản kháng dữ dội, nhưng sau đó lại hồi tâm chuyển ý theo Phật, do một Phật tử tại gia dùng trí tuệ chuyển hóa họ. Thế mới biết, chỉ có trí tuệ mới đích thực là ngọn hải đăng soi sáng đưa người ta đến chỗ giác ngộ giải thoát hoàn toàn mà thôi. XXIII. Phẩm Voi (Nagavaggo)
Thiền sư AI
Trực tuyến