Tín tâm, sống giới hạnh. Ðủ danh xưng tài sản, Chỗ nào người ấy đến, Chỗ ấy được cung kính.
Chánh tín và giới hạnh, được danh dự và thánh tài; người nào được như thế, đến đâu cũng tôn vinh.

Chú giải chi tiết

Pháp cú này, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến cư sĩ Tâm (Citta). Theo truyện tích, “Citta là một nam cư sĩ giàu tâm đạo, chàng luôn được quý trọng mỗi khi đến hầu Phật. Tôn giả A nan thấy thế bèn hỏi Phật: - Bạch Thế Tôn! chỉ khi nào Citta đến viếng Phật mới được trọng vọng như thế? Hay cũng được quý trọng khi đến thăm các người khác? Phật dạy: - Này A nan! Ông ấy luôn được quý trọng như vậy, dù cho đến viếng Ta hay viếng ai. Vì cư sĩ ấy đầy niềm tin, tâm đạo và đức hạnh. Người như thế, dù đi đến nơi nào cũng được tôn kính”. Nhân đó, Phật nói pháp cú này. (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 159) Chánh tín là niềm tin chơn chánh, một niềm tin được điều động chỉ đạo bởi lý trí. Niềm tin rất quan trọng đối với người tu. Nhất là đối với người tu theo pháp môn Tịnh độ, thì niềm tin đứng đầu trong ba món tư lương: “Tín, Hành, Nguyện”. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Niềm tin là mẹ đẻ của các thứ công đức”. Tu hành thiếu niềm tin, thì chẳng khác nào như cây thiếu rễ cái. Tất nhiên là thân cây phải khô cằn. Nhờ có niềm tin mạnh mẽ, vững chắc ở nơi Tam bảo, nhân quả, thì hành giả mới có thể tu tiến thoát khổ. Nên nhớ niềm tin phải được đặt định trên nền tảng trí giác, nếu không, thì niềm tin đó sẽ trở thành mê tín, mù quáng. Khi tin sâu vào pháp lành, nên hành giả mới giữ giới. Bởi công năng của giới luật là ngăn chận các việc ác. Không những ngăn chận không thôi, mà hành giả còn phải gia công tích cực hành thiện, đó là thực hiện làm các hạnh lành. Giới và hạnh là hai phạm trù hỗ tương nhau. Nhưng giới là căn bản. Có thể nói, muôn hạnh lành nhờ giữ giới mà phát sanh. Hạnh là đức độ cảm hóa tha nhân. Người tu thiếu hạnh, thì không thể khắc phục cảm hóa chính mình, nói chi đến hóa độ kẻ khác. Muốn có giới hạnh, thì người tu cần phải để tâm nghiên cứu học hỏi, nghĩa là học rộng nghe nhiều. Đó là văn huệ. Có nghe nhiều rồi nỗ lực huân tu thật hành những gì đã học. Từ đó, hành giả mới có được tấm lòng bao dung rộng mở hỷ xả. Biết tha thứ mọi lỗi lầm cho tha nhân. Đó là thể hiện ân đức. Buông bỏ tất cả những tâm niệm chấp trước ở nơi tự ngã, tha nhân, rộng ra là muôn pháp, có thế, thì mới được giải thoát. Đó là hành giả thật hành hạnh “Tứ vô lượng tâm” của Bồ tát. Trong Tứ vô lượng tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả mà hạnh xả là quan trọng hơn hết. Nếu không xả là có vướng mắc, chấp trước. Do xả bỏ mọi thứ nên trí huệ mới phát sanh và mới mau thành tựu đạo quả Bồ đề. Còn tàm và quý của “Thất thánh tài” nói trên, cũng như là hai người bạn để giúp sức cho hành giả thành tựu ở 5 pháp trên: Tín, Giới, Văn, Xả và Huệ. Người nào trang bị đầy đủ “bảy thứ báu” này, thì người đó đi đến đâu cũng được người ta kính trọng tôn sùng. Chuyện trích dẫn trên, cho ta thấy, Citta là một cư sĩ có đầy đủ tín tâm tin kính ở nơi Tam bảo. Một người có đạo đức thực sự, thì dù cho đi bất cứ nơi đâu hay ở đâu, họ cũng được mọi người quý kính. Ngược lại, nếu như người đó bản chất đạo đức của họ không có, thì dù cho họ có giả bộ làm ra vẻ đạo đức, hay thậm chí họ ở gần một bậc thầy nào đó có đạo đức cao, thì chưa chắc người đó đã được người ta kính trọng, thán phục. Bởi vì, đạo đức phải được toát ra từ cái tâm thể chân thật. Ở đời, cái gì chân thật thì cái đó bất hư. Còn cái gì giả dối, thì không thể tồn tại. Đó là chân lý muôn đời. Cư sĩ Citta, là người có tâm đạo và đức hạnh, nên Phật nói dù đi đến nơi nào cũng được người ta tôn kính. Thiết nghĩ, đó cũng là bài học sáng giá để chúng ta học hỏi noi gương cư sĩ Citta vậy.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 303 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?