Chú giải chi tiết
Pháp cú này, Phật dạy tại tinh xá Trúc Lâm, có liên quan đến một con quỷ đầu heo. Theo truyện tích, một hôm thầy Mục kiền liên và thầy Lakkhana xuống núi Kỳ xà quật. Đến một chỗ nọ, bỗng nhiên, thầy Mục kiền liên mỉm cười. Thấy thế, thầy Lakkhana liền hỏi duyên cớ, thầy Mục kiền liên không trả lời và bảo khi đến trước đức Thế Tôn thì thầy mới nói. Sau khi khất thực, cả hai đồng trở về tinh xá Trúc Lâm và ra mắt đức Phật. Khi ấy, thầy Lakkhana mới hỏi thầy Mục kiền liên về lý do khi nãy tại sao đang đi thầy cười? Bấy giờ, thầy Mục kiền liên trình bày về việc chính mắt thầy trông thấy một con quỷ hình thù to lớn cao gần một dặm, dáng người như đầu heo, trong miệng mọc ra một cái đuôi đầy dòi bọ lúc nhúc. Thật tôi chưa từng thấy hình thù một con vật nào kỳ quái như thế. Qua lời tự thuật của thầy Mục kiền liên, đức Phật cũng xác chứng như thế. Trước kia, Ngài cũng đã từng thấy con quỷ này, khi Ngài còn ngồi dưới cây Bồ đề. Nhưng từ đó đến nay, đức Phật chưa từng nói với ai về việc đó. Bởi đức Phật sợ nói ra người ta không tin. Bây giờ, có Ngài Mục kiền liên đã thấy, nên đức Phật mới nói. Nhân đó, đức Phật kể tiếp về tiền kiếp của con quỷ này. Phật nói, vào thời đức Phật Ca Diếp, có hai huynh đệ sống chung hòa thuận trong một tu viện. Cả hai đều trọng tuổi, một người 60 và người kia 59 tuổi. Sư đệ kính thờ hầu hạ sư huynh như một chú tiểu hầu thầy. Hôm nọ, có một thầy giảng sư từ phương xa đến chỗ họ ở. Sau khi nghe pháp, cả hai đều tỏ ra tôn kính khoản đãi vị giảng sư đó rất mực. Và cả hai đều bày tỏ thỉnh vị giảng sư đó ở lại tu viện để giảng thuyết cho họ nghe. Hôm sau họ đưa vị khách đó vào làng khất thực. Ngày kia, thấy vắng bóng hai người huynh đệ, mọi người mới hỏi vị khách đó và ông ta cho họ biết là hai người đó, họ có mối bất hòa, nên không đi khất thực. Mọi người không tin. Thực tế, thì hai người đang âm thầm hờn giận ganh tỵ trách móc với nhau vì sự có mặt của vị giảng sư đó. Sư huynh nghi ngờ sư đệ cho rằng, sư đệ nói xấu và còn bảo người khách đó đừng liên hệ với ông ta. Ngược lại, thì người sư đệ cũng âm thầm nghĩ thế. Trải qua một thời gian rất lâu xa, tình cờ hai người gặp lại nhau trong một tu viện và lại ở chung một phòng. Nhân đó, hai người mới giải bày với nhau về việc huynh đệ bất hòa. Vở lẽ ra, hai người mới biết là mắc phải mưu kế ly gián của vị giảng sư kia. Mục đích là để cho hai huynh đệ giận hờn nhau rồi bỏ đi để ông ta chiếm cứ tu viện. Khi biết rõ sự tình, hai huynh đệ trở về tu viện cũ và vạch trần âm mưu của vị giảng sư đó. Hai huynh đệ lập tức trục xuất vị giảng sư đó ra khỏi tu viện. Sau khi chết, vị giảng sư đó rơi vào địa ngục A tỳ. Mãn kiếp địa ngục, bây giờ, ông ta phải mang thân hình con quỷ khổ sở như thế. Sau khi kể xong câu chuyện, đức Phật khuyến giáo: - Này các Tỳ kheo, vị Sa môn phải từ hòa trong tư tưởng, ngôn ngữ và hành động. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện). Nhân đó, Phật liền dạy pháp cú này. Đọc qua pháp cú trên, ta thấy đức Phật đã nhấn mạnh khuyến giáo mọi người nên thận trọng gìn giữ ở nơi ba nghiệp. Những pháp cú ở tập một và tập hai (tạm phân chia) mà chúng ta đã có dịp đọc qua, chúng ta thấy đức Phật hay lặp đi lặp lại nhiều lần về vấn đề gìn giữ ở nơi ba nghiệp này. Tại sao Phật phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế? Bởi vì sự tu hành, dù xuất gia hay tại gia việc đầu tiên, là phải gìn giữ cẩn thận ở nơi ba nghiệp. Tội hay phước cũng từ đó mà ra. Trong ba nghiệp: thân, khẩu, ý, thì ai cũng biết, ý nghiệp là chủ động tạo tác. Hai nghiệp kia, đều do ý nghiệp sai sử mà nói năng hoặc hành động. Do đó, ý nghiệp công cũng lớn mà tội cũng nặng. Bởi tất cả khổ vui đều do nó dẫn đầu tạo tác. Pháp cú trên, đầu tiên, Phật dạy chúng ta phải thận trọng ở nơi lời nói. Vì lời nói có tác dụng qua hai phương diện: lợi và hại. Về mặt lợi, thì Phật dạy chúng ta phải dùng ái ngữ khi phát ngôn. Ái ngữ là những lời nói êm dịu, ngọt ngào, hòa nhã, ai nghe cũng thích. Suốt cuộc đời hành hóa của đức Phật bao giờ và lúc nào, Ngài cũng dùng những lời ái ngữ và chân thật ngữ để khuyến giáo chúng sanh. Nhờ đó, mà chúng sanh được thấm nhuần lời dạy của Ngài nên họ được lợi lạc rất lớn. Về mặt hại, thì Phật dạy chúng ta không nên dùng những lời quái ác ngữ. Đây là thứ ngôn ngữ gây ra tổn hại cho mình và người, nói rộng ra là cho cả quốc gia và xã hội rất lớn. Một lời nói có thể gây ra nước mất nhà tan. Một lời nói có thể gây ra sự bất hòa, cốt nhục tương tàn, người thân ly tán. Một lời nói làm cho gia đình mất hạnh phúc, gây ra đổ vỡ tan nát. Chỉ vì một lời ác ngữ mà tình thân trở thành thù hận và có thể chém giết nhau. Về mặt hại của những lời nói quái ác ngữ, thật không biết nói sao cho hết. Chính vì thế, mà Phật khuyên chúng ta nên thận trọng ở nơi lời nói. Cổ nhân cũng thường khuyên: “một câu nói ngay bằng làm chay cả tháng”. Hay “nọc người bằng mười nọc rắn”. Vì nọc rắn tuy rất độc hại, nhưng dù sao nó cũng chỉ giết chết có một mạng người thôi. Còn lời nói ác độc, có thể giết chết không biết bao nhiêu mạng người. Nhứt là những lời nói mang tính ly gián hại người. Tục ngữ có câu: “gươm hai lưỡi miệng trăm hình”. Gươm dù có sắc bén đến đâu, cũng chỉ có hai lưỡi thôi, còn cái lưỡi của con người thì nó uốn ra thiên hình vạn trạng. Nó uốn chiều nào cũng được hết. Phần nhiều là nó thích uốn cong theo chiều hại người, hại vật. Thật là ghê gớm cho cái lưỡi không xương, nhiều đường lắc léo. Bởi vậy, các bậc cổ đức thường nói: “cái miệng nó đốt cháy hết mọi công đức”. Thế nên, người khéo biết tu, họ luôn luôn cẩn thận gìn giữ ở nơi lời nói. Họ bắt chước học theo người xưa: “phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Nhờ thế, nên họ có nhiều phước đức ở nơi cái miệng. Qua câu chuyện lược dẫn trên chứng minh cho ta thấy, một hậu quả tai hại rất lớn của lời nói ly gián, gây chia rẽ. Vị giảng sư kia, vì có ác ý tham vọng muốn chiếm cứ tu viện cho riêng mình, nên bất chấp thủ đoạn gian ác là dùng lời nói gây ra ly gián chia rẽ giữa hai huynh đệ. Người ta đối xử tử tế tốt với mình, mà mình lại nhẫn tâm gây ra sự xích mích làm cho tình thân của hai huynh đệ người ta, đang thân thương lại trở nên thù hận ganh ghét nhau. Như thế, thì thử hỏi đạo đức và nhân cách của người xuất gia ở chỗ nào? Rất may! cuối cùng, cả hai huynh đệ còn chút tỉnh giác phát hiện ra được cái âm mưu gây chia rẽ của vị thầy kia. Chừng đó, cả hai mới biết là mình đã mắc bẫy. Ngẫm lại, thời nay, cũng có nhiều tay gian ác như vị giảng sư kia. Đã mang danh là một vị giảng sư, được mọi người kính trọng nể nang, nhưng thực chất thì không xứng đáng với danh nghĩa đang mang chút nào. Thế mới biết, chiếc áo không làm nên thầy tu. Nhìn đánh giá bề ngoài, coi chừng chúng ta dễ bị mắc mưu phỉnh phờ lường gạt. Cũng may cho hai huynh đệ kia, còn phát giác ra được là mình đã mắc bẫy, nên cuối cùng cả hai người hóa giải được hận thù ganh ghét và đã nối kết lại tình huynh đệ như xưa. Cả hai huynh đệ cùng nhau trở về tu viện cũ sống chung hòa thuận lại êm đẹp như ngày nào. Đó là một bài học chua cay của tình huynh đệ. Đây là bài học mà hai huynh đệ phải trả một cái giá rất đắt. Bài học này, thiết nghĩ, chúng ta cũng nên nằm lòng để tránh đi cái hậu quả gây ra sứt mẻ tình huynh đệ. Ngoài đời hay trong đạo, thời nào cũng có những hạng người gian ác giả đạo đức bề ngoài để dễ bề thọc gậy bánh xe, gây chia rẽ làm cho nội bộ xáo trộn bất an. Đây là hạng người thật ác độc nguy hiểm, mà chúng ta cần phải để ý đến họ. Muốn được yên thân, tuyệt đối, chúng ta không nên lân cận thân mật với hạng người nham hiểm ác độc này. Tiếp theo Phật dạy, phải kềm chế ý nghĩ. Điều này mới thật là khó. Kềm giữ ở nơi cái miệng đã là khó lắm rồi, huống chi Phật dạy phải kềm chế ở nơi ý nghĩ. Vì ý thức là thứ vô hình, nó luôn luôn biến đổi từng sát na. Tuy nó vô hình, nhưng nó có quyền uy rất lớn. Nó ra lệnh sai khiến cái miệng và cái thân phải làm theo sự điều khiển của nó. Nó nghĩ tốt, thì nó giục cái miệng nói ra điều lành, thân làm việc lành. Ngược lại, khi nó nghĩ điều bất thiện, thì nó khiến cho cái miệng và cái thân cũng làm điều bất thiện. Cho nên, người tu muốn được an vui hạnh phúc, Phật dạy chúng ta phải thường xuyên gìn giữ thật cẩn trọng ở nơi ý nghiệp. Xét về chú ý này, theo các nhà Duy Thức phân định giả lập, thì nó cũng có hai mặt: lợi và hại. Về mặt lợi, thì nó suy tính những điều hay lẽ phải, làm lợi ích cho chúng sanh. Nghiệp dụng của nó về mặt lợi, thì nó có công năng chận đứng những điều suy nghĩ sái quấy, tổn mình hại người. Những công trình vĩ đại, những phát minh đủ các loại kỹ thuật máy móc, mọi ngành nghề, nói chung, là mọi thứ tiện lợi nhu cầu thiết yếu của đời sống, tất cả đều do sự suy tư của ý thức tạo nên. Nhờ đó, mà nhơn loại mới có được một đời sống đầy đủ tiện nghi vật chất sung túc thoải mái. Về mặt hại, thì nó mưu tính toàn là những chuyện hại người hại vật. Nó có nhiều thủ đoạn gian ác. Nó bất chấp dư luận khen chê. Nó toan tính miễn sao có lợi thì làm, ai chết mặc ai. Nó đồng lỏa với tội ác. Nó không có tình thương đồng loại. Thế giới loài người hiện nay, sống trong đảo điên thác loạn bất an, tất cả đều do nó gây ra. Nó là kẻ khuấy động chiến tranh gây ra lắm cảnh tang thương chết chóc. Nó không có một chút từ tâm. Nói tóm lại, đứng về mặt gây ra họa hại hay tội ác của ý thức, thì không có bút mực nào tả xiết. Ngược lại, đứng về mặt lợi tạo ra nhiều điều lợi lạc cho nhơn sinh, thì ý thức có công đóng góp rất lớn lao. Luận về công và tội của ý thức, các nhà Duy Thức Học cho rằng: “Công vi thủ, tội vi khôi”. Nghĩa là luận về công trạng thì nó đứng đầu, còn nói về tội ác, thì nó cũng rất lớn. Phật bảo chúng ta kềm chế ý nghiệp, tất nhiên phải gìn giữ thận trọng về mặt hại của nó. Đừng cho nó suy tính những điều chỉ biết lợi mình mà hại người, hại vật. Còn nó suy tính những điều lợi mình, lợi người, lợi vật, thì Phật khuyên chúng ta nên tích cực phát triển để làm lợi ích cho chúng sanh. Chớ không phải kềm chế không cho nó suy tính gì cả. Làm sao không cho nó suy tính cho được? Nên nhớ, ở đây Phật dạy chúng ta tu ở nơi ba nghiệp. Nghĩa là không làm các điều ác, nhưng nên làm các điều lành. Nhờ đó mà chúng ta mới có được an lạc hạnh phúc. Kế tiếp, Phật dạy: “thân không làm ác”. Đây là gìn giữ ở nơi thân nghiệp. Về thân nghiệp, thì chúng ta phải gìn giữ không cho nó làm những điều bất chánh, như sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Người Phật tử giữ được ba điều này là làm cho thân được thanh tịnh. Người biết tu, không nên vì cung phụng dung dưỡng cho thân sung sướng quá mà gây ra lắm điều tội ác. Hễ gây nhân ác, thì phải trả quả báo ác. Do đó, người Phật tử dù xuất gia hay tại gia, Phật khuyên chúng ta nên thận trọng gìn giữ ở nơi thân nghiệp này. Tóm lại, Phật dạy người Phật tử tu ở nơi ba nghiệp, mới nghe qua chúng ta cho là thường. Đôi khi chúng ta còn không để ý đến. Nghe thì thường đấy, nhưng thật hành đúng theo lời Phật dạy trên, thật không phải là chuyện dễ dàng. Nhiều khi chúng ta luận giải những điều triết lý sâu xa, nhưng nhìn lại ở nơi ba nghiệp của chúng ta thì chưa có sửa đổi được một chút nào. Đó là điều rất hổ thẹn. Thường chúng ta hay bị vướng mắc phải cái bệnh: Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu Dưới gót không ly một điểm trần. Thật ra, nếu chúng ta gìn giữ ở nơi ba nghiệp một cách cẩn thận đừng để cho sai phạm, thì bảo đảm đời tu của chúng ta sẽ được lợi lạc hạnh phúc rất lớn và chúng ta sẽ giải thoát ngay trong hiện tại. Thế nên, kết luận của pháp cú trên, Phật nói: “ba nghiệp thanh tịnh là được đạo thánh nhơn”. Chỗ khác cũng nói: “ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”. Như vậy, không cần tu đâu xa, chúng ta chỉ cần thiết thiệt hành trì ở nơi ba nghiệp, thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được đạo quả cao thượng vậy.
Thiền sư AI
Trực tuyến