Tất cả pháp vô ngã, Với Tuệ, quán thấy vậy, Ðau khổ được nhàm chán: Chính con đường thanh tịnh.
“Các pháp đều vô ngã”; khi đem trí tuệ soi xét được như thế, thì sẽ nhàm lìa thống khổ. Đó là đạo thanh tịnh.

Chú giải chi tiết

Cũng theo câu chuyện kể trên, đức Phật lại dạy tiếp cho các thầy Tỳ kheo về lý thuyết vô ngã. Đọc qua pháp cú trên, ta nên chú ý đến ý nghĩa của những cụm từ: “các pháp đều vô ngã, đem trí tuệ soi xét, nhàm lìa thống khổ, và đó là đạo hạnh thanh tịnh”. Tại sao Phật nói các pháp đều vô ngã? Vô ngã là không có cái ta chân thật. Vạn pháp sinh thành là do duyên khởi. Vì “cái này có nên cái kia có, vì cái này không nên cái kia không, vì cái này diệt nên cái kia diệt, vì cái này sanh nên cái kia sanh”. Các pháp tụ hợp nương nhau mà thành. Trong đó, tuyệt đối không có cái chủ thể cố định. Vì vậy, khi phân tích sâu vào phần giáo lý duyên sinh, ta thấy rõ vô ngã tính của các pháp. Theo giáo lý Nguyên Thủy, tức các Kinh A Hàm, thì Phật nói, cái xác thân mà chúng ta đang mang đây, nó kết hợp bởi hai phần: vật chất và tinh thần. Về phần vật chất là do bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa cấu thành. Nói theo khoa học ngày nay, là do các tế bào cấu tạo hình thành. Còn phần tinh thần cũng do bốn thứ: thọ, tưởng, hành, thức, tạo thành trạng thái tâm lý. Như vậy, phân tích cho cùng thì cái thân tâm của ta đây chỉ là do ngũ uẩn giả hợp, thực thể của nó là không, tức không có cái gì làm chủ tể, đó là vô ngã. Xét sâu xa hơn, thì cái thân này ngay từ khi mới hình thành, đã là do tinh cha huyết mẹ và thần thức gá vào tạo thành cái thai bào. Như thế, ngay từ buổi đầu đã là do duyên hợp rồi. Khi đủ ngày tháng sanh ra, thì đứa hài nhi phải nương nhờ tứ đại bên ngoài để nuôi sống. Nếu như đứa bé không có uống sữa, không hít thở không khí trời đất ban cho, không có sự chăm sóc kỹ lưỡng của cha mẹ v.v… thì thử hỏi nó có thể sống còn được không? Khi đứa bé lớn lên, nó phải tiếp tục vay mượn tứ đại bên ngoài nhiều hơn để nuôi lớn thân thể. Về tinh thần, thì cũng phải vay mượn học hỏi ở nhà trường mới có được kiến thức. Tóm lại, cuộc sống của chúng ta từ lúc mới sanh ra cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, tất cả đều phải nhờ vay mượn mà tồn tại. Đã vay mượn, thì có cái gì là thật mình đâu! Theo nguyên lý vô ngã, cái gì do duyên sinh, thì cái đó không thật có. Cái không thật có, thì không phải vô ngã là gì? Như vậy, xét cái thân này, ngay từ buổi đầu đã là vô ngã rồi. Với cái nhìn sắc bén của tuệ giác, thì không phải đợi đến cái thân xác này tan rã, chúng ta mới thấy là không thật có, mà phải thấy ngay khi thân thể này còn đang sinh hoạt tồn tại, tự nó đã là vô ngã không thật rồi. Không thật có cái thật ngã, chớ không phải là không có cái giả ngã. Đó là xét về thân tâm ta là như thế. Còn xét ra bên ngoài như cái nhà ta đang ở, không phải cái nhà tự nhiên mà có. Cái nhà chỉ là tên rỗng giả danh không thật. Muốn có cái nhà ở, tất nhiên, phải hội đủ các điều kiện hợp lại tạo thành. Như ta là người đứng ra chủ động xây cất, tất nhiên, là phải nhờ đến những thứ khác nữa như: thợ, nhân công, và các thứ vật liệu v.v… Nhờ hội đủ các điều kiện như thế, thì căn nhà mới hình thành. Nếu như chỉ có đơn độc một mình ta, thì thử hỏi làm sao xây dựng được căn nhà? Ta chỉ là cái chánh nhân để tạo thành, còn những thứ khác đều là trợ duyên. Thế thì, do đủ duyên hợp lại tạo thành, hết duyên thì nó tan rã. Chỉ có thế thôi. Do đó, nên nói cái nhà là không có thật tánh. Nói cách khác, từ các thứ không phải là cái nhà, (như người và các thứ vật liệu) đủ điều kiện hợp lại tạo thành cái nhà, nên thực thể của cái nhà là không. Nên nói, cái nhà là vô ngã. Từ đó suy ra, mọi thứ hiện tượng trên đời này, nhỏ như hạt bụi, lớn như quả địa cầu thãy đều là như thế cả. Chúng ta nên nhớ rằng, nói các pháp vô ngã là đứng về mặt không gian mà nói. Như trên đã nói, lý thuyết vô ngã được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết duyên sinh. Rời lý thuyết duyên sinh, thì không có lý thuyết vô ngã. Mà duyên sinh là do sự kết hợp nhiều vật thể tương quan hình thành theo chiều không gian. Còn nói vô thường là đặt định trên chiều thời gian. Muốn hiểu được lý duyên sinh vô ngã, tất nhiên chúng ta phải vận dụng trí huệ bát nhã để soi sáng phân tích cho tường tận. Thế nên, Phật dạy chúng ta phải đem trí huệ soi xét. Vì đây là vấn đề tối hệ trọng trong sự nhận thức. Có nhận định đúng đắn khế hợp chân lý như thế, thì sự tu hành của chúng ta mới mong có kết quả an lạc giải thoát. Bằng ngược lại, thì dễ rơi vào con đường tà kiến. Có quán chiếu phân tích sâu vào như thế, nên kế tiếp Phật nói là chúng ta mói có thể nhàm lìa mọi thống khổ. Cái nỗi thống khổ lớn nhứt của con người là do mê lầm chấp ngã mà ra. Ai cũng chấp cái thân tâm này là thật có. Từ cái nhận định mê lầm đó, nên người ta mới tạo ra không biết bao nhiêu thứ nghiệp ác, để rồi phải chiêu cảm lãnh thọ bao nhiêu thứ khổ đau. Nhơn loại ngày nay, không có phút giây nào được sống an ổn hạnh phúc, tất cả đều do nặng lòng chấp ngã, chấp pháp mà ra. Trong thì chấp ngã, ngoài thì chấp pháp. Thậm chí những vật do mình tạo ra, cũng chấp chặt cho là thật của mình. Trong kinh thường gọi là chấp ngã và ngã sở. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, cái ta còn không thật có, nói gì đến tài sản của cải ngoài thân ta. Nhớ lại, pháp cú 62 ở Phẩm Ngu, Phật dạy: “Đây là con ta; đây là tài sản ta, kẻ phàm phu thường lo nghĩ như thế, nhưng chẳng biết chính ta còn không thiệt có, huống là con ta hay tài sản ta”? Phật dạy như thế, nhưng tiếc thay! lòng tham dục của con người thật quá lớn không ngằn mé, họ muốn ôm hết cả vũ trụ vào lòng cũng chưa vừa ý. Tham mà không được thì nổi sân. Từ đó, nên nhơn loại mới gây ra bao thảm cảnh chiến tranh, khủng bố tàn sát lẫn nhau. Tất cả đều do lòng si mê chấp ngã, chấp pháp mà ra. Muốn bớt đi lòng tham lam chấp ngã và chấp pháp này, Phật dạy chúng ta phải dùng trí huệ quán chiếu thật sâu vào lý duyên sinh vô ngã. Vì mọi vật trên đời, không có thứ gì tồn tại. Bám chặt ôm ấp mọi vật vào mình, cuối cùng, không được thứ gì cả! Nắm bắt vào sự vật khác nào như nắm bắt một làn hương, hay như ôm ấp một giấc mộng. Chúng ta nên nhớ rằng, các pháp hữu vi chỉ là huyễn ảo, bọt bóng, sương khói, khác nào như hoa đốm giữa hư không. Thế thì, bám chấp vào nó chỉ là làm một việc mò trăng dưới nước chỉ hoài công vô ích mà thôi! Do hằng để tâm quán chiếu như thế, thì cường độ của lòng tham lam sân hận của chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều. Là Phật tử, thiết nghĩ, chúng ta nên vâng lời Phật dạy, hằng ngày tập tu theo hạnh thiểu dục tri túc. Càng ít muốn biết đủ, thì thân tâm của chúng ta mới được an thoát nhẹ nhàng. Khi tâm được an thoát, thì mới hợp với lẽ đạo thanh tịnh, và chúng ta mới thực sự có hạnh phúc, nên Phật nói: “đó là đạo hạnh thanh tịnh”.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 279 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?