Chú giải chi tiết
Hai pháp cú này Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến vài thầy Tỳ kheo đức hạnh. “Một vài vị Sa môn đầy đủ đức hạnh tự nghĩ rằng: - Chúng ta đầy đủ giới đức, chúng ta tu tập theo giáo lý thanh tịnh, chúng ta học rộng, chúng ta sống tịnh cư, chúng ta phát triển thần thông nhờ thiền định. Vì thế, chúng ta chứng A la hán không khó, chúng ta sẽ chứng A la hán bất cứ khi nào. Cũng như thế, các vị chứng quả A na hàm cũng nghĩ: - Đối với chúng ta, chứng quả A la hán không khó. Một ngày kia các vị đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và lui ngồi một bên. Phật hỏi: - Này các Tỳ kheo, các ông đã xong việc chưa? Các thầy thưa: - Bạch Thế Tôn, chúng con đã đạt những bậc Thánh như thế đó, khi nào muốn chúng con sẽ chứng quả A la hán. Vì nghĩ như vậy, nên chúng con giữ nguyên vị trí. Nghe nói thế, Phật dạy: - Này các Tỳ kheo, không thích đáng cho một Sa môn chỉ vì đã giữ tròn giới luật, hoặc chỉ chứng được Tam quả, và nghĩ rằng: “Chỉ còn chút ít phiền não trong đời hiện tại của ta”. Trái lại, chừng nào lậu hoặc chưa hoàn toàn diệt trừ, người ấy chưa có quyền tự cho rằng mình đã thật sự chứng đắc”. Nhân đó, đức Phật liền nói hai pháp cú này. (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 99) Phật nói hai pháp cú này, để minh định dứt khoát trong việc tu hành cầu giải thoát. Không phải lấy việc hành hạ xác thân hay học rộng hiểu nhiều, thậm chí dù có chứng được tam muội, hay tự sống biệt lập ẩn cư nuôi thân, mà vội cho đó là đúng nghĩa phẩm hạnh của người xuất gia. Dù những việc làm này, đối với người thường, thật khó sánh kịp, nhưng không vì thế, mà chúng ta lại vội tin cho đó là người đã thật sự đạt đạo. Nếu phiền não chưa thật sự dứt sạch, thì người đó vẫn chưa đạt được thánh quả. Thế nên, trên bước đường tu hành, ta cần phải thận trọng, không nên đánh giá một cách hời hợt bề ngoài. Muốn đánh giá thử nghiệm người tu tới đâu, còn phiền não hay không, Phật Tổ dạy, ta nên lấy cây thước “Bát phong” ra đo. Đối với tám ngọn gió ( lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc ) này khi thổi đến, mà hành giả vẫn thản nhiên bất động, thì đó mới thật sự là thứ thiệt. Bằng ngược lại, thì chưa xứng danh là người đạt đạo. Dù cho người đó có lộng giả thành chơn đến đâu, cũng không thể che giấu qua mắt được người có già dặn kinh nghiệm trong sự tu hành. Muốn biết vàng thiệt cần phải thử lửa. Thuở xưa, ở vào thời đại nhà Lương bên Trung Hoa, một hôm, vua Lương võ Đế và Hòa Thượng Chí Công đứng trên lầu cao quán sát ngắm cảnh. Nhà vua nhìn thấy những dãy núi đều có tuyết rơi phủ xuống, duy có một ngọn núi không có tuyết rơi. Bấy giờ, nhà vua lấy làm lạ mới hỏi Hòa Thượng Chí Công lý do tại sao? Hòa Thượng Chí Công cho biết, vì trong núi đó, có một vị Thiền sư đang tham thiền nhập định. Vì sức định của nhà sư này rất sâu và có hỏa quang tam muội, nên tuyết không thể rơi xuống được. Vua lấy làm lạ và khen ngợi hết lời. Sau đó, nhà vua ra lệnh phải mời cho được vị thiền sư đó về triều. Vị thiền sư đó có tên là Suy Hải. Sau khi thiền sư Suy Hải về triều, nhà vua đối xử rất kính trọng. Thiền sư ở trong tịnh thất chuyên tu trải qua thời gian 3 năm, không ra ngoài. Nhà vua khen thầm cho đó là một bậc chân tu. Hôm khác, nhà vua cùng với Hòa Thượng Chí Công trong khi luận đạo, nhà vua có nêu ra về đạo đức tu hành của thiền sư Suy Hải. Nhà vua tán thán khen ngợi hết lời, cho đó là một bậc chân tu đắc đạo. Nhưng với tuệ giác của Hòa Thượng Chí Công, thì biết rõ vị Thiền sư đó chưa phải là thứ thiệt. Tuy có sức thiền định khá sâu, nhưng lòng chấp ngã vẫn còn sâu nặng. Cho nên, Hòa Thượng Chí Công nói với vua Lương Võ Đế, nếu bệ hạ, muốn biết thiệt giả thế nào, thì nên thử nghiệm là biết liền. Đánh giá người tu, không nên chỉ một mặt nhìn hình thức bề ngoài mà có thể đoán định được. Nhà vua nghe và làm theo lời Hòa Thượng Chí Công. Lần thử nghiệm thứ nhứt, nhà vua và Hòa Thượng Chí Công ngồi ăn chung một bàn. Đồ ăn rất ngon, toàn là những thứ cao lương mỹ vị. Nào là chén ngọc đủa ngà, dĩa vàng muỗng bạt. Trong khi đó, thì thiền sư Suy Hải, chén sành đủa tre và đồ ăn toàn là những thứ hết sức tầm thường. Như rau muống luộc, tương kho, cà nướng v.v… Mọi người ai nấy đều lặng lẽ ngồi ăn, không ai nói với ai một lời. Ăn xong, Suy Hải đến chào nhà vua và Hòa Thượng Chí Công rồi từ giả quay gót lặng lẽ trỡ về tư thất. Tuy không nói ra, nhưng trong lòng của ngài Suy Hải đã có vẻ bất bình, tức giận. Lần thử nghiệm thứ hai, nhà vua thiết đãi yến tiệc linh đình. Văn võ bá quan trong triều đều có mặt dự đủ. Nhà vua cho mời các bậc thiền đức cao tăng trong nước về triều tham dự. Tất cả đều ngồi chỗ cao ráo sang trọng. Chỉ có Thiền sư Suy Hải, thì ngồi riêng ở một góc xó không có sang trọng gì. Đồ ăn thì rất là tầm thường. Sau khi ăn xong, đến phần tặng quà, mọi người đều nhận lãnh toàn là những thứ lụa là gấm vóc đắt giá. Chỉ riêng Thiền sư Suy Hải, thì chỉ nhận được một thứ lụa rẻ tiền nhứt. Tặng quà xong, nhà vua tuyên bố: “sở dĩ hôm nay, trẫm tặng quà cho các khanh mà không được đồng đều, là vì trẫm thấy đạo hạnh của Thiền sư Suy Hải còn quá thấp kém, nên trẫm chỉ tặng cho ngài một thứ lụa thô sơ rẻ tiền nhứt”. Nghe thế, Suy Hải không còn kềm chế được cơn giận tức, liền nổi giận đứng lên tuyên bố với mọi người là ngài không phải thứ hạng người háo danh ham lợi… Ông ta nói với giọng tức giận, lòng sân hận quá mức nên nét mặt tái xanh và rồi ngã té bất tỉnh tắt thở trước mặt mọi người… Khi đó, tất cả mọi người đều hốt hoảng run sợ, nhứt là nhà vua rất ân hận vì đã hại chết một nhà sư. Nhưng chỉ có Hòa Thượng Chí Công biết rõ sự tình, nên chính Ngài đã cứu thoát Thiền sư Suy Hải khỏi đọa lạc làm thân chim non. Bằng cách là cho một số người đi về hướng Bắc, thấy trên cháng cây nào có ba nhánh de ra, trên đó có một tổ chim và chỉ có một con chim non mới sanh, thì phải bắt đem về cho Hòa Thượng Chí Công. Quả thật, đoàn người đã tìm thấy có con chim non mới sanh, và lạ thay trên lưng của nó có hai chữ Suy Hải. Mọi người rất ngạc nhiên và run sợ. Hòa Thượng Chí Công sau khi chú nguyện cho con chim non rồi, liền liệng xuống đất, chim chết, thần thức nhập vào xác của Thiền sư Suy Hải. Thế là Suy Hải sống lại. Nếu không có sự cứu độ kịp thời của Hòa Thượng Chí Công, một bậc tu hành đạt đạo, thì thử hỏi hậu quả của thiền sư Suy Hải sẽ như thế nào? Tu hành có sức thiền định thâm sâu như thế, tuyết không thể rơi xuống được, thế mà chỉ vì không chịu nỗi hoàn cảnh thử thách trước mắt, nên lòng sân hận trào dâng lên, rồi phải chết một cách tức tối thê thảm như thế. Thế mới biết, tu hành mà còn chấp ngã nặng, thì thật khó được giải thoát.(Tóm lược cốt chuyện trong quyển Thiền Môn Cảnh Tỉnh Tu Hành). Trở lại, câu chuyện dẫn chứng trên, đức Phật quở trách những Tỳ kheo này lậu hoặc phiền não chưa diệt trừ hết, thì làm sao có thể chứng được thánh quả A la hán? Ngẫm lại, thời nay, có người tu hành được chút ít kết quả lợi lạc, thì lại hô hào cho rằng mình chứng đắc thế này, thế nọ. Tu hành mà còn thấy có chứng, có đắc, thì đâu phải là người chân tu. Vì sao? Vì còn thấy có ngã tướng. Đã chấp ngã chấp pháp như thế, thì đó không phải là chủ trương của Phật giáo. Kinh Kim Cang Bát Nhã, Phật đã dạy rất rõ về vấn đề này. XX. PHẨM ĐẠO (Maggavagga)
Thiền sư AI
Trực tuyến