Tham ái sinh sầu ưu, Tham ái sinh sợ hãi. Ai giải thoát tham ái, Không sầu, đâu sợ hãi?
Từ ái dục sinh lo, từ ái dục sinh sợ ; xa lìa hết ái dục, chẳng còn lo sợ gì.

Chú giải chi tiết

Pháp cú này Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến một người Bà la môn. Theo truyện tích, có một người Bà la môn tà kiến, thường ngày ông làm ruộng ngoài đồng. Khi gặp Phật, ông không cung kính chào hỏi. Thấy thế, Phật hỏi: - Này Bà la môn! Ông đang làm gì thế? - Tôi đang dọn đất, Cồ Đàm! Cứ thế Phật hỏi ông nhiều lần, mỗi khi Phật đi ngang qua và tùy theo câu hỏi mà ông ta trả lời. Sau nhiều lần hỏi đáp, ông có cảm tình với Phật và ông kết thành bạn. Ông còn hứa khi nào lúa chín, ông sẽ chia phần cho Phật. Nhưng không may cho ông, khi sắp gặt, thì bị một trận bão làm tan nát cả đám ruộng, không gặt được một cọng lúa nào. Buồn quá! Ông nằm dài không ăn chẳng nói, vì ông đã thất hứa với Phật. Biết thế, Phật đi đến nhà ông. Người nhà cho biết, ông mừng quá vội vã chạy ra gặp Phật. Ông trình bày cớ sự rằng, ông sầu khổ vì thất hứa với Phật. (Hết phần lược dẫn cốt chuyện). Nhân đó, Phật khuyên ông và rồi Phật nói pháp cú trên. Qua câu chuyện lược dẫn trên, ta thầm khen cho ông Bà la môn này. Mặc dù lúc đầu, ông tỏ ra bất kính với Phật. Nhưng sau đó, được Phật gợi chuyện hỏi han ông và từ đó ông có cảm tình với đức Phật. Đây cũng là cách nhiếp hóa của Phật. Tùy căn cơ mà hành xử hóa độ. Sau khi có cảm tình, ông bèn hứa với Phật, tới mùa lúa chín, ông sẽ chia cho Phật một ít. Nhưng vì bị thiên tai bão lụt, nên ruộng lúa ông đều bị tiêu tan hết. Bấy giờ, ông đâm ra sầu khổ lo buồn vì cái tội thất hứa. Ở đây, ta nhận ra được cái tấm lòng quý giá của ông ta. Dù là người nông dân chất phác chân lấm tay bùn, nhưng một khi đã hứa với ai điều gì, thì ông không bao giờ nuốt lời mình hứa. Ông buồn khổ, không phải vì mùa màng thất bát không có lúa ăn, mà ông buồn rầu chỉ vì đã lỡ thất hứa với đức Phật. Thật là tội nghiệp! Đó mới thật là một con người hiền hòa đạo đức thật hiếm có. Thánh Gandhi lúc còn nhỏ, có lần ông phạm lỗi lầm về cái tội ăn cắp một vài chỉ vàng của kẻ khác, nhưng sau đó, lòng ông hối hận bức rứt không nguôi. Vốn là người con có hiếu, nên ông cảm thấy, hành động phi pháp đó rất có lỗi với người cha. Dù biết phạm lỗi nặng, nhưng ông không có đủ can đảm trực tiếp để thố lộ bày tỏ nỗi lòng hối hận của mình với người cha. Trong lúc cha ông bệnh nặng thập tử nhứt sanh, nằm liệt trên giường, ông chỉ viết một lá thư với nội dung là ông thú tội xin cải hối lỗi lầm với người cha và hứa nguyện từ nay về sau, không bao giờ tái phạm. Người cha xé thơ ra xem, đang nằm bỗng gượng ngồi dậy và rồi ông không dằn được cơn xúc động đành phải để cho những giọt nước mắt chảy dài trên đôi má. Thế rồi, hai cha con ôm chầm lấy nhau trong nỗi nghẹn ngào xúc cảm khóc lóc. Và từ đó mãi cho đến ngày nhắm mắt, ông luôn nhớ giữ lời hứa, không bao giờ phạm phải lần thứ hai. Khi đối trước Tam bảo quy y, người Phật tử đã phát nguyện hứa trước Tam bảo và hiện tiền chư tôn đức Tăng Ni chứng minh, là không bao giờ phạm những giới luật mà mình đã lãnh thọ. Đó là một lời hứa thật tối hệ trọng suốt cả cuộc đời mình. Thế mà, có đôi khi vì vấn đề mưu sinh, phải vật lộn bon chen với đời để kiếm sống, mà người Phật tử lại quên đi những điều mà mình đã hứa trước Tam bảo. Gây ra phạm nhiều lỗi lầm, mà người Phật tử không hay biết. Dẫu có biết, nhưng cũng vẫn tiếp tục phạm phải. Chẳng những không ăn năn cải hối, mà còn tìm cách biện hộ cho những lỗi lầm của mình. Đó là điều mang trọng tội thất hứa với chính mình và với Tam bảo vậy. Nghèo khổ, không nghĩ đến sự đói kém cho bản thân, gia đình, mà buồn ăn mất ngủ chỉ vì một lời hứa. Trên đời này, thật khó tìm được một con người biết tự trọng như thế. Phật biết ông đau buồn, nên tìm đến để an ủi khuyên lơn ông. Quả thật, khi gặp lại Phật, bao nhiêu nỗi lo buồn của ông, đều tan biến hết. Chỉ cần nghe Phật nói một câu nói, lòng ông cảm thấy thật nhẹ nhàng như trút đi một tảng đá nặng ngàn cân. Người ta sinh ra lo sợ, dù có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là ái ngã. Vì mọi sự lo lắng, buồn khổ trên đời, cũng do lòng ái dục quá yêu thương mình mà ra. Đó là do lòng ích kỷ nảy sanh ra bao nhiêu thứ tệ hại. Vì ái tự ngã, nên không muốn ai hơn mình và cái gì cũng muốn đem về mình. Đó là nỗi khổ lớn của nhơn loại xưa nay. Qua những pháp cú trên, ta thấy, Phật lặp đi lặp lại về những vấn đề tham ái. Tại sao Phật phải lặp đi lặp lại nhiều lần như thế? Lời khuyên dạy đó có thừa lắm không? Thật không có dư thừa chút nào. Vì sao? Vì tính chất của nó quá quan trọng trong sự tu hành thoát khổ. Bởi mọi sự khổ đau trên đời, đều do lòng tham ái chấp trước của con người mà ra. Do đó, nên Phật nhắc đi nhắc lại, để cho mọi người phải ghi nhớ khắc sâu, ý thức đến sự khổ đau mà lo diệt trừ lòng tham ái. Câu hỏi được đặt ra ở đây là phải diệt trừ nó bằng cách nào? Bằng cách chống lại nó ư? Coi nó là kẻ thù không đội trời chung của chúng ta ư? Chắc chắn Phật không dạy chúng ta phải chống diệt nó bằng cách đó. Vì chống tham dục cũng vẫn lại là tham dục. Coi chừng không khéo chúng ta lại bày ra một bãi chiến trường chém giết nhau trong tâm thức của chúng ta. Như thế, thì ta thực sự chưa hiểu lời Phật dạy. Tham dục nó không phải là đối tượng để ta tiêu diệt. Bởi nó cũng khởi lên từ tâm thức của ta. Khác nào như sóng khởi lên từ nước. Chả lẽ, nước lại đi tiêu diệt sóng sao? Mà tiêu diệt làm sao được? Khi một niệm tham dấy lên, ta chỉ cần có chánh niệm nhận diện nó. Ta nên lưu ý, nhận diện khác hơn đàn áp. Đàn áp hay đè ép, đó không phải là biện pháp hay. Vì đó tạo thành một đối tượng tiêu diệt. Thí dụ, như một niệm giận nổi lên, ta dùng câu thần chú, hay câu hiệu Phật hay bất cứ đề mục nào khác, để ta trấn áp nó. Phương pháp này, khác nào như chúng ta lấy đá đè cỏ. Dùng sức mạnh để trấn áp, biện pháp đó, chưa đủ sức để làm cho nó an ổn. Nghĩa là không thể phục hồi cho nó trở lại như lúc chưa khởi lên cơn giận. Theo tôi, chỉ có biện pháp hay nhứt là chúng ta cần phải thắp sáng ngọn đuốc chánh niệm lên. Vì chánh niệm là một năng lượng, có mặt hoàn toàn của ta trong giây phút hiện tại. Chúng ta đừng quên rằng, cơn giận nổi lên, nó cũng là năng lượng một phần của tâm. Có nghĩa là nó cũng chính là một phần của ta biến ra. Do vọng tưởng hay tri giác sai lầm mà ta mới có ra sân hận. Năng lượng chánh niệm có khả năng nhận rõ cơn giận. Khi nhận biết rõ nó, ta cần thương yêu vỗ về nó, hơn là đàn áp chống đối, như bà mẹ thương yêu vỗ về an ủi đứa con đang tức giận khóc la. Với hành động ý thức thương yêu của bà mẹ, tất nhiên, là đứa bé sẽ từ từ êm dịu trở lại. Cũng thế, khi có mặt chánh niệm nhận rõ ôm ấp vỗ về xoa dịu chuyển hóa cơn giận, tất nhiên, là cơn giận sẽ dịu lại và từ từ nó sẽ tan biến ngay. Khi nó tan biến, là ta đã thành công. Vì ta không còn khổ đau bởi do nó hoành hành dắt dẫn ta nữa. Nếu như ta đánh mất chánh niệm, không kịp thời nhận diện, mà chúng ta theo nó hành động, thì hậu quả xảy ra sẽ không thể nào lường trước được. Khi nhận biết nó rồi, thì nó không thể nào có cơ hội lộng hành, tác oai tác quái dẫn ta theo nó được. Đó là cách xoa dịu vỗ về chuyển hóa hay nhứt. Nếu cần, chúng ta cũng nên lập tức trở về với hơi thở, theo dõi hơi thở ra vô và nhận diện rõ ràng. Chúng ta phải thiết thực nhận diện và giữ thật yên lặng vài ba phút. Được vậy, thì cơn giận sẽ bị khắc chế điều phục và chúng ta sẽ lấy lại sự tỉnh táo an bình ngay. Bạn cứ thử thực tập một cách thiết thiệt, thì bạn sẽ thấy sự kỳ diệu của nó. Điều này là một chứng nghiệm chớ không phải nói ngoa. Mong bạn cố gắng thực tập và để tâm sâu sắc về vấn đề này.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 216 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?