Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật dạy, khi Phật đang ngụ tại Vệ xá ly (Vesàli ), có liên quan đến một thầy Tỳ kheo. Khi nghe Phật tuyên bố, bốn tháng nữa Phật sẽ vào Niết bàn, các thầy Tỳ kheo ai nấy đều buồn lo. Chỉ trừ những vị A la hán, dứt hết phiền não, chứng nghiệm rõ lý vô thường, nên các Ngài không có bi ai. Còn lại, những vị khác đều ngậm ngùi bi lụy khóc than. Khi đó, thầy Tỳ kheo Tissa đi tìm chỗ thanh vắng ở một mình, không tiếp xúc với bất cứ ai. Thầy quyết tâm thiền quán để chứng quả A la hán khi Phật còn tại thế. Thấy vậy, các Tỳ kheo khác đến hỏi duyên do, thầy Tissa không nói, chỉ âm thầm lo chuyên tu đoạn trừ phiền não. Những vị nầy đến bạch trình với đức Phật, Phật gọi thầy Tissa đến hỏi duyên cớ. Bấy giờ, thầy Tissa mới trình bày rõ ý nguyện của mình cho Phật nghe. Phật liền khen ngợi và nhân đó Phật nói Pháp cú nầy. ______________ 28 Độc cư: ở một mình. Tìm chỗ thanh vắng và chỉ sống một mình để tu hành. Khi hay tin Phật sắp vào Niết bàn, các Tỳ kheo chưa chứng Thánh quả, ai nấy đều đau buồn rơi lệ khóc than. Vì không ngăn được mối tình cảm thiêng liêng sâu đậm trong tình nghĩa Thầy trò trải qua bao nhiêu năm dài tháng rộng chung sống với nhau. Đó là một tâm lý tình cảm rất thường tình của một con người. Nhất là đối với đức Phật là một bậc Thầy gương mẫu cao thượng; một thâm ân quá lớn lao. Thử hỏi làm sao các Ngài có thể ngăn được đôi dòng lệ thảm? Thế nhưng, trong lúc mọi người than khóc buồn lo, thì thầy Tissa lại vượt hơn cái thường tình của một người đệ tử. Thay vì khóc lóc than thở bi ai, thì thầy lại đi tìm chỗ thanh vắng để quyết chí ẩn tu. Thầy quyết lòng đạt cho kỳ được Thánh quả A la hán, trước khi Phật vào Niết bàn. Sau khi biết rõ duyên do, Phật khen ngợi thầy hết lời. Việc làm của thầy Tissa, mới nhìn qua, ta thấy thầy như không nghĩ gì đến thâm ân sâu dày của Phật dạy dỗ. Trước cảnh sắp chia ly tình nghĩa Thầy trò, thầy không tỏ ra một chút bi ai xúc động. Đã vậy, thầy còn đi tìm chỗ ở riêng một mình lánh xa Thầy bạn. Nhưng khi Phật khen ngợi việc làm của thầy, thì các nghi ngờ của các thầy Tỳ kheo khác không còn nghĩ quấy cho thầy Tissa nữa. Thiết nghĩ, đây là một bài học thật đáng giá cho chúng ta noi gương. Báo ân Thầy Tổ, không phải chỉ có khóc than bi lụy mới gọi là báo ân thương Thầy. Là người đệ tử thực sự thương và muốn báo đáp thâm ân dạy dỗ của Thầy, tất nhiên ta phải làm tròn bổn phận của một người đệ tử, là phải hết lòng tu học cho có kết quả như ý Thầy mong muốn. Được như thế, thì người đệ tử đó mới thực sự là tri ân và báo ân Thầy. Và Thầy cũng rất vui mừng khi biết được người đệ tử của mình có chí hướng quyết tâm tu hành như thế. Thầy Tissa đã biểu lộ một hành động vượt hơn thường tình rất xa. Biết đạo lực của mình còn yếu kém, nên thầy quyết chí nỗ lực tu hành đạt cho được kết quả, để đáp lại cái thâm ân mà bấy lâu nay vị Thầy của mình đã dày công giáo huấn. Phải đạt cho kỳ được trước khi Thầy nhập diệt. Có thế, thì Thầy mình mới vui và mình cũng không cảm thấy hổ thẹn với Thầy. Trong tâm tưởng của thầy Tissa, thầy nghĩ phải thực hiện cho kỳ được như thế. Và thầy đã quyết tâm thực hiện. Trong khi đó, thì những vị khác lại tỏ ra bi lụy khóc than. Thử hỏi khóc than như thế, có lợi ích gì cho mình và cho Thầy mình không? Hơn nữa, mình là người đang đi trên con đường giác ngộ giải thoát, phải tỏ ra cho mọi người biết về lý vô thường mà mình đã được thụ huấn từ một bậc Thầy vĩ đại đã hết lòng truyền đạt cho mình. Có thế, thì Thầy mình mới cảm thấy thật không uổng công dạy dỗ. Người xuất gia phải thể hiện cho kỳ được cái tinh thần vô úy đó. Vì mình là người có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ Phật tử tu học. Nếu mình không vượt qua nỗi cái thường tình bi lụy đó, thì mình đâu có gì hơn họ. Bởi thế, mà đức Phật khen ngợi thầy Tissa trước mặt các Tỳ kheo khác. Chúng ta dù xuất gia hay tại gia, mỗi khi Thầy Tổ viên tịch, chúng ta quyết không bi lụy khóc than theo thói tình. Chỉ một lòng vâng theo lời Thầy dạy mà hết lòng gắng công tu học. Phải tu học cho có kết quả như ý Thầy mong muốn. Có thế, thì ta mới thực sự báo đáp lại phần nào thâm ân của Thầy đã dày công dạy dỗ cho mình. Pháp cú trên, Phật cho chúng ta thấy lối sống độc cư là một lối sống trầm lặng xa lánh ồn náo. Đây là nếp sống mà bản thân Phật đã từng trải qua. Ngày xưa, trước thời Phật cũng như trong thời Phật, nếp sống độc cư trong núi rừng của các thầy Bà la môn đã có rồi. Vì vậy, sau khi xuất gia, Phật đi vào rừng sâu để hỏi đạo với các vị nầy. Có ở chỗ vắng vẻ, hành giả mới dễ dàng kiểm soát nhận diện vọng niệm. Đồng thời, cũng dễ tiến thân trau dồi đạo hạnh và đi sâu vào đời sống tâm linh hơn. Điều nầy, ta thấy các Thiền sư ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, phần nhiều các Ngài hay lên núi tìm chỗ thanh vắng để ẩn tu. Và nhờ thế, mà sự công phu tu hành của các Ngài mới chóng đạt được kết quả tốt đẹp. Khi tâm an định, thì ta có một nguồn vui tràn đầy vô tận, nên nói là pháp hỷ sung mãn vậy. Đó là một sự thật, không ai có thể phủ nhận được.
Thiền sư AI
Trực tuyến