Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến bà mẹ của Trưởng lão Kumara Kassapa. Một người mẹ thật đau khổ vì bị nghi oan. Trước khi xuất gia vào Ni chúng, bà đã có mang thai, nhưng chính bà và người chồng đều không hay biết. Bà gia nhập vào Ni chúng thuộc phái Đề Bà Đạt Đa. Sau khi phát hiện biết bà mang thai, lời dị nghị đàm tiếu nghi oan của mọi người đã làm bà thật vô cùng thất vọng đau khổ. Tiếng đồn đến tai đức Phật, Phật biết đây là một sự nghi oan của mọi người. Phật sai ngài Ưu Ba Ly, một người trì giới đệ nhất đến tận nơi để giải oan. Sau khi cho khám nghiệm kỹ càng, ngài Ưu Ba Ly dõng dạc công bố giữa mọi người là người đàn bà nầy vô tội. Và tính theo ngày tháng, thì cái bào thai kia là có trước khi bà xuất gia. Thế là mọi việc được minh bạch, không còn ai nghi ngờ. Không bao lâu, đứa bé lại chào đời. Đứa bé đó chính là Kassapa. Kassapa lớn lên cũng đi xuất gia. Mẹ con cách xa nhau 12 năm. Có lần, bà mẹ trông thấy con mình trên đường mang bát đi khất thực, bà mừng quá la lên rồi vội vã chạy đến, vì bất cẩn bà té sấp xuống chân Ngài. Nhìn thấy cảnh tượng đau lòng đó, thầy Kassapa không muốn cho tình mẫu tử sống dậy trong lòng thêm phiền não rắc rối cho sự tu hành, nên Ngài nói những câu như vô tình bạc nghĩa. Nghe con nói thế, người mẹ rất đau lòng xót dạ ngậm ngùi nuốt tủi đành gạt lệ bỏ đi! Từ đó, bà quyết chí không còn nương tựa vào bất cứ ai, vì chính con ruột của bà còn vội nở bỏ bà, thì thử hỏi trên đời nầy, còn có ai thương bà để cho bà đáng nương tựa gởi thân. Chính bà là nơi nương tựa cho bà. Bà quyết tâm dũng mãnh nỗ lực quyết chí tiến tu, không còn ỷ lại vào bất cứ ai khác. Qua câu chuyện lược dẫn trên, ta thấy bà mẹ của thầy Kassapa thật là đau khổ. Chính nỗi đau khổ nầy làm cho bà đứng vững mạnh hơn. Khi mẹ con gặp lại, thông thường là người ta mừng rỡ bịn rịn khóc than. Thế nhưng ở đây, ta thấy mẹ con của ngài Kassapa thì ngược lại. Thầy Kassapa đối xử với mẹ thật vượt hơn thường tình. Thầy đã không xúc động rơi lệ, dù đã trải qua 12 năm trường xa cách. Thầy đã gạt lệ khóc thầm, khi đối xử với người mẹ mình như kẻ vong ân bạc tình bạc nghĩa. Nhưng chính cái bạc tình nầy đã đánh thức cái tình đạo lý sống dậy trong tận cùng tâm khảm của người mẹ. Bà đã mạnh dạn đứng lên và quyết tâm tự nỗ lực tu hành, không nương tựa hay ỷ lại vào bất cứ ai. Vì cái chân lý giải thoát không ai có thể ban cho mình được. Khổ hay vui chính do mình tạo lấy, đó là một bài học thật tràn đầy ý nghĩa thâm thúy. Người ta sống hay ỷ lại kẻ khác. Đối với người Phật tử, Phật dạy không nên ỷ lại vào bất cứ nơi ai, dù người đó là đức Phật. Câu nói: “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, nhưng hãy thắp lên với chánh pháp”. Đó là lời dặn dò phó chúc chí thiết sau cùng của Phật đối với ngài A Nan, một người thị giả luôn luôn hầu cận bên Phật. Qua lời dạy nầy, đức Phật muốn thức nhắc cảnh tỉnh mọi người hãy tự mình quyết định đời mình. Đừng bao giờ tin cậy nương vào bất cứ ai. Vì không có một vị Thần Thánh nào có thể cứu mình được. Chính mình hãy tỉnh thức tự cứu lấy đời mình. Không ai có đủ quyền năng ban phước, giáng họa định đoạt đời ta cả. Địa ngục hay thiên đường do ta tự tạo lấy. Ta tự cầm tay lái chiếc xe đời ta. Ta không nên ỷ lại gởi thân phận mình cho bất cứ ai, dù người đó mệnh danh là Thần Thánh. Ngay cả đức Phật, Ngài còn không cho chúng ta ỷ lại nương tựa vào Ngài. Thế thì, thử hỏi trên đời nầy còn có ai để cho ta tin tưởng trao thân gởi phận nữa chớ?! Phật chỉ giúp cho ta bằng cách chỉ dạy. Nói cách khác, Ngài chỉ có nhiệm vụ là người vẽ bản đồ và chỉ đường cho chúng ta đi. Đi hay không là quyền quyết định của chúng ta. Ngài chỉ rõ con đường nào an lạc và con đường nào đau khổ. Quyền chọn lựa con đường là hoàn toàn ở nơi chúng ta. Ngài không bắt buộc ai phải đi theo con đường Ngài chỉ dẫn. Ngài cho chúng ta có trọn quyền quyết định, chọn lựa. Đạo Phật rất tự do và công bằng là ở chỗ đó. Ngài chỉ khuyến hóa ta chớ không bao giờ bắt buộc hay khuyến dụ ta. Người học Phật xin nhớ rõ ở điểm nầy. Khổ hay vui là do tự mình quyết định chọn lấy. Đọc qua Pháp cú trên, Phật dạy rất rõ: “Chính tự mình làm chỗ nương cho mình, chứ người khác làm sao nương được?” Thế mà, đại đa số Phật tử chúng ta hay ỷ lại nương vào người khác. Cứ nghĩ rằng, Phật hay Bồ tát hộ độ cho mình, trong khi đó mình không chịu lo tu, không làm theo những gì Ngài chỉ dạy. Lúc sống không lo tu niệm, làm lành lánh dữ, ăn chay niệm Phật, đến khi chết thì chạy vô chùa nhờ Tăng Ni tụng kinh cứu độ giùm. Phật tử tin tưởng một bề ỷ lại như thế, thì thật là đáng thương xót, tội nghiệp biết bao! Phật dạy tiếp: “Tự mình khéo tu tập mới đạt đến chỗ nương dựa nhiệm mầu”. Người tu hành muốn đạt đến quả vị A la hán hay quả vị Phật là tự mỗi người nỗ lực hành trì. Trong khi thật hành, Phật dạy người Phật tử phải khéo tu tập. Khéo tu tập là khéo chọn lựa pháp môn cho thích hợp với căn cơ và trình độ của mình. Sau khi đã chọn đúng pháp môn rồi, từ đó, người Phật tử phải vận dụng công phu tu tập, nỗ lực hành trì đúng theo lời Phật chỉ dạy. Có thế, thì mới mong đạt được kết quả tốt đẹp vậy.
Thiền sư AI
Trực tuyến