Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy Phật nói tại tinh xá Kỳ Viên, có liên quan đến hoàng hậu Mallikà. Theo truyện tích, Bà là chánh hậu của vua Ba tư nặc. Bà là một Phật tử rất thuần thành thường tới lui tinh xá để cúng dường đức Phật và chúng tăng. Có một điều bất hạnh cho bà là bà đã phạm giới tà dâm. Chính vua Ba tư nặc đã nhìn thấy hành động dâm ô của bà với một con chó mà bà đã cưng yêu chiều chuộng nhứt ở trong nhà tắm. Khi nhà vua khiển trách, bà lại chối quanh không nhận tội. Thế là bà phạm thêm cái tội nói dối. Do đó, lòng bà luôn luôn bất an. Vì ôm ấp mặc cảm tội lỗi nên trước khi lìa đời, bà cứ mãi ray rứt về tội lỗi của mình đã gây ra. Mặc dù trước đó bà đã cúng dường nhiều phẩm vật quý giá dâng lên cho đức Phật. Nhưng trong giờ phút hấp hối, bà không nhớ đến sự cúng dường đó. Bà chỉ nhớ và lo sợ tội lỗi đã gây tạo. Do cớ đó, nên sau khi nhắm mắt, bà bị đọa vào địa ngục A tỳ. Vua Ba tư Nặc rất yêu thương bà và nhà vua nôn nóng muốn biết thần thức của bà thác sanh về đâu? Vua đến bạch Phật, Phật biết trước sự việc nên khuyên nhà vua không nên bi lụy. Bà hoàng hậu chỉ đọa địa ngục trong vòng 7 ngày thôi, rồi sau đó sẽ thác sanh lên cõi trời Đâu Suất. Sau bảy ngày, đức Phật chỉ đi một mình ôm bát vào thành khất thực. Đến cổng hoàng cung, vua hay tin thay vì sớt đồ ăn vào bát của Phật, nhà vua cầm bát của Phật định lên sân thượng, nhưng Phật từ khước. Đức Phật chỉ muốn ngồi ở ngôi nhà để xe. Nhà vua thuận theo ý Phật và ông cúng dường thức ăn cho Phật tại chỗ ngồi. Nhà vua tỏ vẻ buồn rầu áo não và bạch Phật về việc của hoàng hậu. Phật bảo: nhà vua không nên lo lắng, vì hoàng hậu nhờ phước đức cúng dường Phật và chúng tăng, nên đã sanh lên cõi trời Đâu Suất. Dù biết vậy, nhưng nhà vua vẫn ưu tư buồn khổ. Phật thấy vậy rất thương xót nên khuyên bảo và giảng pháp cho ông nghe. Nhân đó, Phật mới hỏi nhà vua về những chiếc xe. Có ba loại xe. Chiếc xe cũ kỹ nhất là của đời ông, chiếc xe hơi cũ là của đời cha và chiếc xe còn mới là của nhà vua. Đức Phật dạy: -“Đại vương, xe của cha còn tốt hơn xe ông nội, cũng vậy xe của đại vương còn tốt hơn xe của cha. Sự suy tàn cũng sẽ làm hư hoại thân nầy. Đại vương, chỉ có đức hạnh chơn chánh mới không hư hoại”. Và rồi đức Phật liền nói pháp cú nầy. Qua phần lược dẫn truyện tích trên, ta thấy, bà hoàng hậu, tuy được nhà vua sủng ái, nhưng vì bà ta phạm một lỗi lầm rất lớn. Do đó, mà cả hai người đều mất hạnh phúc. Dù ở địa vị cao sang, quyền uy tột đỉnh, nhưng bản chất vẫn là con người, vẫn có đủ những hạt giống: hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc v.v… Trong mỗi con người, đều sẵn có hai thứ hạt giống tiềm tàng: tốt và xấu hay thiện và ác. Bà hoàng hậu, tuy là một Phật tử hiểu đạo, nhưng vì hạt giống xấu trong tâm thức của bà chưa được chuyển hóa khá, nên đôi khi nó lại lấn át hạt giống tốt và rồi nó hành động theo lòng si mê dục vọng sai khiến. Từ đó, bà không còn giữ được hạnh phúc như thuở nào. Và cũng từ đó, lòng bà bất an. Đó là do bà đã tạo nên một nội kết mặc cảm tội lỗi rất lớn trong đời, mà chính bà không thể tự hóa giải được. Không bao lâu bà lâm trọng bệnh và qua đời. Nhân nào quả nấy. Sau khi chết, bà bị đọa vào địa ngục A tỳ. Tuy nhiên, đây chỉ là trả cái quả báo của cận tử nghiệp, cho nên thời gian rất ngắn. Còn tích lũy nghiệp là nhờ hằng ngày bà tu tạo phước đức cúng dường và trong tâm luôn hướng về Phật pháp, nên sự thọ tội của bà trong địa ngục cũng không có dài lâu. Nhờ phước đức cúng dường Phật và chúng tăng, nên sau đó, bà được sanh lên cõi trời Đâu Suất. Sau khi hoàng hậu mất, vua Ba tư nặc rất thương nhớ sầu khổ. Vua là một Phật tử rất có tín tâm. Ông hết lòng phụng sự Phật pháp. Ông đã cúng dường nhiều tài vật tạo nhiều phương tiện để Phật và chúng tăng tiện bề giáo hóa chúng sanh. Vì cảm kích lòng hảo tâm của ông, nên sau bảy ngày hoàng hậu mất, Phật một mình ôm bát đến trước cửa hoàng cung. Mục đích là Phật muốn đến viếng thăm và an ủi ông. Hay tin Phật đến, nhà vua đích thân cung thỉnh Phật vào trong cung. Ông định thỉnh Phật lên trên sân thượng, nhưng Phật từ khước. Phật chỉ ngồi trong nhà để xe. Nhìn thấy những chiếc xe để đó, nhân đó, Phật dùng những chiếc xe nầy làm đề tài để Phật nói một bài pháp. Phật so sánh thân nầy giống như chiếc xe của nhà vua. Chiếc xe, khi mới sản xuất, thì ai thấy cũng trầm trồ khen đẹp. Xài một thời gian, thì nó phải cũ kỹ. Phật nói: “Dù đại vương có trang hoàng cho chiếc xe lộng lẫy đẹp đẽ đến đâu, cuối cùng rồi, nó cũng phải hư hoại”. Thân nầy cũng thế. Lúc còn trẻ trung, nhựa sống tràn đầy, ai trông thấy cũng cho là đẹp. Nhưng rồi, cũng theo thời gian mà nhan sắc phải héo úa tàn phai. Có thân ai trẻ đẹp mãi mà không già không? Cũng như có chiếc xe nào mà không phai màu cũ kỹ không? Chiếc xe, dù chúng ta có sơn phết tân trang thiết bị đến cỡ nào, rồi nó cũng phải hư hoại mà thôi. Vì bản chất của nó là vô thường, là sanh diệt. Thân nầy cũng vậy. Dù chúng ta có bỏ ra tốn hao bao nhiêu tiền bạc để sửa sắc đẹp, nhưng cuối cùng thì sao? Nó có còn trẻ đẹp bền bỉ mãi không? Hay rồi nó cũng da nhăn má cóp… và tàn tạ xấu xí không ai muốn nhìn. Vì bản chất của nó là gốc cây mục. Chúng ta có tô trét sửa mới làm đẹp cách mấy đi nữa, rồi nó cũng mục rã. Thật đúng với câu người ta thường nói: “tiền mất mà tật vẫn mang, sửa sang tân trang lại càng chuốc khổ”. Xét cho cùng, thì thân nầy nó già từng sát na. Các tế bào luôn luôn thay đổi biến dịch. Cái nầy chết đi cái kia sinh trưởng. Cứ thế mà luân lưu theo dòng sanh diệt. Tất cả đều phải bị luật vô thường chi phối đào thải. Không có một thứ gì tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, chỉ có một thứ không già. Đó là Phật nói: “chỉ trừ thiện pháp của bậc thiện nhân là không bị suy già mà cứ di chuyển từ người lành nầy sang người lành khác”. Thiện pháp là pháp lành, là cái không hình tướng. Vì không có hình tướng, nên nó không bị luật vô thường sanh diệt chi phối. Nói cách khác, “Thiện pháp” cũng chính là “Phật tánh” hay “pháp tánh”, đó là cái pháp gốc của con người. Cái gì có hình tướng, thì cái đó bị hoại diệt. Trong Kinh Kim Cang Bát Nhã Phật nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Phật nói: “cái gì có hình tướng đều là giả dối không thật. Nếu thấy các tướng mà không dính kẹt vào tướng, thì người đó mới thấy được Như Lai”. Như Lai ở đây, không phải chỉ cho Phật quả. Mà Như Lai ở đây, là chỉ cho cái thể tánh thanh tịnh sáng suốt bất sanh bất diệt mà mỗi người chúng ta đều sẵn có. Về tướng của các pháp, thì có vô thường sanh diệt. Tại sao? Vì tất cả đều do duyên hợp. Đã do duyên hợp, nên thể tánh của nó là “Không”. Cũng như những lượn sóng nhỏ lớn nổi trên mặt biển có khác nhau, nhưng bản thể của chúng chỉ là nước. Người nào nhận ra cái thể tánh sẵn có nầy, thì gọi người đó là kiến tánh hay ngộ đạo. Và từ đó cứ như thế mà truyền pháp cho nhau, mãi mãi không cho đoạn diệt, nên Phật nói, cứ di chuyển từ người lành nầy sang người lành khác. Tóm lại, mọi vật trên đời, không có vật gì tồn tại theo thời gian. Phật nêu ra hình ảnh của chiếc xe để tiêu biểu cho tất cả mọi vật khác. Cái thân nầy giống như cổ xe kia. Mọi người ai ai cũng phải trải qua một chu kỳ: “sanh, già, bệnh, chết, hay sanh, trụ, dị, diệt”. Lúc trẻ thì đẹp, đến lúc già thì xấu đi. Nhưng dù đẹp hay xấu, tất cả đều mang một mẫu số chung, đó là “Chết”. Nhưng chết không phải là hết, mà nó chỉ là biến đổi qua một hình thái khác thôi. Ý thức như thế, Phật khuyên chúng ta nên cố gắng làm lành lánh dữ. Tu tạo nhiều điều phước thiện. Như bà hoàng hậu, tuy tạo tội bị đọa lạc, nhưng nhờ tu phước bố thí cúng dường Tam Bảo mà bà ta được phước báo sanh thiên. Đời người, khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả đều để lại cho đời, chỉ có mang theo hai thứ: “nghiệp lành hoặc nghiệp ác”. Tùy theo chỗ tạo nghiệp lành dữ hiện đời mà người ta có thọ sanh vui khổ khác nhau.
Thiền sư AI
Trực tuyến