Chú giải chi tiết
Pháp cú nầy, Phật dạy ngược lại pháp cú trên. Phật khuyên bảo những ai đã làm lành, chớ nên bỏ cuộc, mà hãy tiếp tục làm mãi. Có người lúc đầu hăng say làm việc thiện, nhưng khi gặp một vài nghịch cảnh chướng duyên thử thách nào đó, thì họ liền thối thất đạo tâm và bỏ cuộc. Khi mới phát tâm, họ phát tâm rất mạnh. Họ làm bất kể khó khăn. Nhưng rất tiếc, chỉ mạnh được lúc đầu, nhưng sau đó, họ lại thối bước lần. Thậm chí, họ không còn làm nữa. Họ thuộc hạng người đầu voi đuôi chuột. Nghĩa là họ thiếu ý chí và lập trường. Hoặc giả, họ đặt mục tiêu không đúng chỗ. Họ làm vì háo danh, háo lợi, muốn có tiếng tăm trong xã hội. Vì thiếu lập trường và đặt sai mục tiêu, nên khi gặp chướng ngại là họ dễ thối chí nản lòng buông bỏ. Việc làm lành, Phật dạy chung cho mọi người. Dù xuất gia hay tại gia cũng thế. Làm lành có nhiều phương diện và nhiều lãnh vực khác nhau. Nhưng làm lành dưới dạng thức nào, cũng nhằm mục đích lợi mình, lợi người, lợi vật hiện tại và mai sau. Người làm lành, tất nhiên, là người có tâm tốt. Nhưng tâm tốt không chưa đủ mà cần phải có tâm hỷ xả. Không nên để tâm vướng mắc vào việc mình làm. Làm mà còn có tâm chấp trước, thì việc làm lành đó còn có chấp tướng. Còn thấy việc mình làm quan trọng. Vì thấy quan trọng, nên dễ bị mắc kẹt vào sự khen chê. Khen thì vui mà chê thì buồn. Còn vướng mắc trong niệm vui buồn, thì sự làm lành của mình khó đạt được thành công. Điều quan trọng là khi làm lành phải có tâm bền chí và nhẫn nại. Bền chí và nhẫn nại đó là hai đức tánh mà một người đã quyết tâm làm lành, vì lợi ích mọi người cần phải có. Điều quan trọng nên nhớ là khi chúng ta làm những việc thiện nguyện giúp người. Phật dạy, chúng ta nên vui vẻ mà làm. Làm với tâm vui vẻ hoan hỷ, tất nhiên, là ai cũng thích. Chính mình được lợi lạc mà người khác cũng được lợi ích. Trái lại, làm với tâm bực dọc, nổi cáu, quạu quọ, nóng nảy, thì chẳng những thiệt hại cho mình mà còn làm mất thiện cảm ở nơi người khác. Có lắm người, khi làm việc thiện mà không được người ta ưa thích cảm tình cũng với lý do đó. Họ tỏ thái độ khinh thường người khác. Khi trái ý nghịch lòng là họ liền nổi sân la ó nạt nộ om sòm. Họ dùng lời lẽ nặng nề mạt sát mọi người. Vì họ thấy họ là quan trọng. Họ làm với tâm cống cao ngã mạn. Như những trường hợp họ đi ủy lạo, phát thuốc, tặng quà v.v. chẳng hạn. Trường hợp nầy, ta thấy xảy ra rất nhiều. Ngược lại, có người họ làm với một ý thức trong sáng và với tâm khiêm cung trân quý mọi người. Họ âm thầm cặm cụi mà làm. Họ vui thích với công việc. Họ không màng ai biết đến họ. Ai biết đến họ cũng tốt mà không biết đến họ cũng không sao. Họ nghĩ đơn giản, họ tự biết họ là được rồi. Đối với mọi người, họ rất vui vẻ. Hạng người nầy, họ rất dễ gây cảm tình với những bạn đồng nghiệp. Những ai làm chung với họ, cảm thấy có một niềm vui tươi mát. Tâm hồn mọi người đều thoải mái, cười nói tự nhiên. Ai nấy cũng đều thích mến họ. Họ khéo léo trong việc cư xử với mọi người. Họ thật tâm phục vụ cho mọi người. Mọi người vui, tức là họ vui. Thật đây là hạng người hiếm có. Đây là hạng người thật sự làm lành và làm với tâm ý như thế, thì chắc chắn là họ sẽ được tăng thêm phước đức. Tập làm lành với tâm ý như thế, không những mình được lợi lạc mà còn đem lại sự lợi lạc cho mọi người. Hạng người nầy, thật đáng cho chúng ta kính trọng và cũng đáng để người khác noi theo. Lời Phật dạy tuy đơn giản, chỉ có mấy chữ thôi, nhưng thực tế, không phải dễ gì thực hiện. Cũng một việc làm, nếu không khéo, thay vì có công mà trở thành có tội. Công hay tội đều từ tâm phát khởi. Làm với tâm hoan hỷ, không dính mắc chấp trước vào việc mình làm, thì việc làm đó rất là có phước. Bằng ngược lại, thì chẳng những không có phước báo mà còn thêm tội. Thêm tội ở chỗ cái tâm bất bình. Đối với mọi người, tất nhiên là không ai ưa thích. Câu kế tiếp Phật dạy: “Hễ chứa lành nhất định thọ lạc”. Tại sao chứa lành mà được thọ lạc? Vấn đề nầy, chúng ta cần phải lưu tâm tìm hiểu thật rõ. Chứa lành là chứa ở đâu? Điều lành có hình tướng hay không mà chứa? Dùng cái gì để chứa? Cái gì phát khởi thúc đẩy chúng ta làm lành? Và sau khi làm lành, Phật nói hễ chứa lành nhất định thọ lạc. Vấn đề nầy có liên quan đến Duy thức học. Theo Duy thức, mỗi người chúng ta đều có Tám thức tâm vương. Tám thức đó là: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, Mạt na và A lại da. Trong tám thức nầy, thì thức A lại da làm căn bản cho các thức. Thức A lai da, có ba nghĩa: năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng. Năng tàng nghĩa là thức nầy có công năng hay chứa các chủng tử thiện ác. Sở tàng là chỗ để chứa các chủng tử thiện ác. Ngã ái chấp tàng là thức nầy bị thức thứ bảy (Mạt na) chấp làm tự ngã. Như vậy, thức A Lại da còn gọi “trì nghiệp chủng tử”, nó có công năng gìn giữ tất cả chủng tử thiện ác. Mọi hành động, lời nói thiện hoặc ác, đều huân vào trong tạng thức nầy. Cho nên, nó là cái kho để chứa các chủng tử. Chủng tử là tên khác của tập khí. Những tập khí được chứa nhóm trong thức nầy, đến khi thuần thục, thì cái nào mạnh, cái đó hiện hành và dẫn nghiệp. Như người ghiền rượu, đến cơn ghiền họ tự đi tìm rượu để uống. Hoặc vào quán rượu hoặc đi tìm bạn bè hay bất cứ nơi đâu miễn có rượu uống là được. Đấy gọi là nghiệp ghiền rượu. Hạt giống rượu của họ được huân vào trong thức A lại da quá mạnh. Hiện đời như thế, thì sau khi chết cũng thế. Nghiệp nào mạnh dẫn họ đi trước để thọ sanh. Cứ tùy duyên mà chiêu cảm thọ báo. Ngược lại, người nào trong đời sống hằng ngày, huân tập nhiều hạt giống lành vào trong A lại da thức, như niệm Phật chẳng hạn, đến khi thuần thục, chính thói quen niệm Phật nầy, hiện đời họ được an lạc và sau khi nhắm mắt nó dẫn họ thọ sanh vào cảnh giới lành. Bởi thế nên Phật nói: Hễ chứa lành nhất định thọ lạc là vậy.
Thiền sư AI
Trực tuyến