Ai sống một trăm năm, Không thấy pháp sinh diệt, Tốt hơn sống một ngày, Thấy được pháp sinh diệt.
Sống trăm năm mà không thấy pháp vô thường sanh diệt, không bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường.

Chú giải chi tiết

Vô thường sanh diệt là một trong Tứ pháp ấn thuộc hệ giáo lý Nguyên thủy. Tứ pháp ấn là: khổ, không, vô thường và vô ngã. Có thể nói suốt mười hai năm thuyết giáo độ cho hàng Tiểu cơ, Phật chỉ xoay quanh bốn chân lý nầy. Đây là bốn chân lý mà về sau đã được các nhà kết tập kinh điển Phật giáo liệt vào giáo hệ A Hàm. Bốn chân lý nầy, thật vô cùng quan trọng cho những ai thật tâm nghiên cứu giáo lý Phật giáo. Chúng là nền tảng cơ bản của hệ Phật giáo Đại thừa sau nầy. Nói cách khác, các nhà Đại thừa chỉ dựa vào bốn chân lý nầy mà triển khai rộng ra thêm. Dĩ nhiên, có những điều siêu việt hơn. Nhưng dù diễn dịch dưới hình thức nào, bước đầu nghiên cứu, các nhà Đại thừa không thể bỏ qua. Nhìn vào vạn hữu vũ trụ, chúng ta thấy không vật nào thoát khỏi bốn quy trình sanh diệt. Đối với các pháp thuộc hiện tượng vật lý, thì chúng chịu chung một quy luật: sanh, trụ, dị, diệt. Đối với những loại khoáng vật như đất, đáthì chúng có chung một luật định: thành, trụ, hoại, không. Đối với con người thì: sanh, lão, bệnh, tử. Đối với thời tiết thì chúng cũng có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Những quy luật thiên nhiên nầy chi phối và vận hành toàn bộ. Tất cả đều có chung một quy luật: vô thường. Nói đến vô thường, người ta thường chia ra có ba thứ: 1. Hoàn cảnh vô thường. 2. Thân vô thường. 3. Tâm vô thường. Ba thứ hiện tướng vô thường nầy, trong các kinh điển, Phật thường nhắc đi nhắc lại rất nhiều. Tại sao Phật thường lặp đi lặp lại như thế? Bởi nó rất quan yếu về mặt tu hành cũng như về mặt cảnh giác thức nhắc con người. Bởi Phật biết rõ, con người rất dễ mau quên. Dù vô thường luôn luôn xảy đến với họ trong từng giây phút. Đối với ngoại cảnh, sự đổi thay dễ thấy nhứt. Dễ thấy, nhưng không phải dễ tỉnh giác. Đối với những ai có căn cơ trình độ nhạy bén, khi họ nhìn vào sự vật như hoa rơi, lá rụng, thì họ liền giác ngộ lý vô thường ngay. Từ sự tỉnh giác đó, họ quyết tìm phương giải thoát. Ngược lại, cũng cùng một cảnh vật đó, nhưng đối với những con người thuộc căn cơ chậm lụt, hay nghiệp chướng sâu dầy, thì họ không một chút tỉnh giác. Họ coi sự chuyển biến đó như không có gì xảy ra. Nhằm thức nhắc con người luôn nhớ đến lý vô thường để lo tu hành sớm được giải thoát, trong Kinh Bát Đại Nhơn Giác, mở đầu có bài kinh, Phật dạy: “Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sanh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ. Tâm thị ác nguyên, hình nhi tội tẩu, như thị quán sát, tiệm ly sanh tử”. Điều giác ngộ thứ nhứt, Phật dạy: “Thế gian nầy là vô thường, cõi nước dòn bở, là tạm bợ, thân tứ đại là khổ, là không, năm ấm không có cái ta chân thật, sanh diệt đổi dời luôn luôn, luống dối không chủ. Tâm là nguồn gốc tội ác, thân là rừng tội lỗi, hằng quán sát như thế, lần lần xa lìa sanh tử”. Bài kinh nầy, Phật dạy để thức nhắc cho chúng ta phải hằng để tâm ghi nhớ. Có hằng nhớ đến lẽ vô thường như thế, chúng ta mới nỗ lực huân tu. Có nỗ lực huân tu và thường xuyên quán sát, thì chúng ta mới mong hết khổ. Kinh Tứ Thập Nhị Chương, trong đó cũng có hai bài Kinh Phật dạy về quán vô thường và vô ngã. Phật ngôn: Quán thiên địa niệm phi thường, quán thế giới niệm phi thường, quán linh giác tức Bồ đề, như thị tri thức đắc đạo tật hỷ. Phật ngôn: Đương niệm thân trung tứ đại các tự hữu danh, đô vô ngã giả; ngã ký đô vô, kỳ như huyễn nhỉ. Dịch nghĩa: Phật dạy: Quán trời đất nghĩ là chẳng phải thường, quán thế giới nghĩ là chẳng phải thường, quán linh giác tức Bồ đề, hiểu biết như thế được mau đắc đạo. Phật dạy rằng: Phải quán bốn đại trong thân, mỗi đại tự nó có tên, đều không có cái gì là ngã, ngã đã không có thì chúng chỉ như huyễn mà thôi. (Bản dịch của giáo sư Hoàn Quan) Diễn dịch văn vần: Dù trời đất bao la rắn chắc Luật vô thường hữu sắc tức không Đã do duyên hợp khó mong Bền lâu vĩnh viễn biển sông đổi dời Chỉ linh giác đời đời chẳng đổi Đạo Bồ đề lãnh hội an vui Đường tu quyết chẳng thối lui Viên thành quả giác mới nguôi dạ nầy Quán bốn đại thân nầy giả dối Mỗi đại kia đều có tên riêng Suốt thông đạo lý nhân duyên Huyễn thân vô ngã bền kiên được nào. (T. Phước Thái) Qua hai bài kinh trên, Phật dạy chúng ta phải quán lý vô thường từ thô đến tế. Thô, thì rộng lớn như trời đất bao la, tất cả cũng đều biến hoại. Tế, thì thân và tâm, tất cả đều vô thường huyễn hóa, chúng thay đổi từng sát na. Tất cả như giòng nước chảy trôi, luôn luôn biến dịch không ngừng. Tuy nhiên, Phật dạy chúng ta phải tế tâm quán sát trong cái vô thường có cái không vô thường, chính đó là linh giác hay bản tâm chân thật của ta. Pháp cú trên, Phật dạy, nếu chúng ta nhận được cái lý vô thường sanh diệt của vạn vật như thế, thì không uổng một kiếp sống, dù chỉ sống thời gian rất ngắn một ngày thôi. Tại sao thế? Bởi trong Kinh Phật thường dạy, người nào thấy được pháp sanh diệt là thấy được Đạo. Tức là đã nhận ra được pháp bất sanh bất diệt. Đã thế, thì sự sống chết, còn mất, đối với người đã nhận ra được lẽ thật (Niết bàn) thì đối với họ thực sự có nghĩa lý gì đâu! Vì họ đã nhận ra được trong cái vô thường có cái “chơn thường”, như thế, thì còn gì là ước định thời gian lâu hay mau! Đó là đã thể nhận được “Cành mai” không rụng trước cảnh mùa xuân thiên nhiên của đất trời, dù tất cả hoa lá đều rơi rụng. Đó là “cành mai bất hoại” của Ngài Mãn Giác Thiền Sư và cũng là của tất cả chúng ta. Vì ai cũng có sẵn cành mai đó. Được thế, thì còn gì phải luận bàn đến thời gian và sự sống nữa chớ! “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ Nhứt chi mai”.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 113 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?