Dầu trải một trăm năm, Thờ lửa tại rừng sâu, Chẳng bằng trong giây lát, Cúng dường bậc tự tu. Cúng dường vậy tốt hơn, Hơn trăm năm tế tự.
Cả trăm năm ở tại rừng sâu thờ lửa, chẳng bằng trong giây lát cúng dường bậc chân tu, cúng dường bậc chân tu trong giây lát thắng hơn thờ lửa cả trăm năm.

Chú giải chi tiết

Pháp cú nầy, Phật dạy tại Trúc Lâm, có liên quan đến người cháu của Trưởng lão Xá lợi Phất. Truyện tích kể lại: “Trưởng lão cũng đến người cháu hỏi thăm có từng làm việc thiện không. Hằng tháng anh ta giết một con thú để tế lửa, vì tin rằng sẽ lên cõi Phạm thiên như thầy anh ta bảo. Trưởng lão cũng khuyên anh đến gặp và thỉnh Phật dạy cho. Phật thuyết như sau: “Bà la môn, dù ông thờ lửa một trăm năm như thế, công đức cũng chưa bằng giá trị lễ kính đệ tử ta trong một khoảnh khắc”. (Tích truyện Pháp cú tập II trang 98). Tế tự là một tín ngưỡng của người dân Ấn đã có trước khi Phật ra đời. Con người đứng trước vũ trụ bao la, họ đâm ra sợ hãi. Từ đó, họ nảy sanh ra ý niệm tín thành sùng bái thiên nhiên. Họ cho rằng, mỗi một hiện tượng thiên nhiên, đều có một vị thần ngự trị điều khiển cai quản. Như Thần mây, Thần mưa, Thần gió, Thần lửa v.v. Và cũng từ đó, họ sáng tác ra những bản thánh ca và nghi thức cúng tế Thần linh. Thời nầy, sử ghi lại, gọi là thời đại Đa thần giáo. Đã có nghi thức, tất nhiên phải có người đứng ra chủ tế. Cho nên, từ đó nảy sanh ra một giai cấp nắm quyền chủ tế, tức là hạng tăng lữ, đó là nguyên nhân có ra Bà la môn giáo sau nầy. Bà la môn, Trung Hoa dịch là Tịnh hạnh hoặc Phạm hạnh, chỉ cho phái tu hạnh trong sạch. Kinh điển của phái nầy gọi là Phệ đà (Veda), Trung Hoa dịch là Minh luận hoặc Trí luận. Kinh điển của Bà la môn gồm có 4 thứ: 1. Lê câu phệ đà (Rig-Veda) 2. Dạ du phệ đà (Yajur Veda) 3. Sa ma phệ đà (Sàma Veda) 4. A thát bà phệ đà (Atharva Veda) Bốn thứ kinh điển nầy, được gọi chung là Tứ Phệ đà thánh điển. Đó là một hệ thống tư tưởng triết lý về thời xưa của xứ Ấn Độ. Trong bốn loại thánh điển trên, thì Dạ du phệ đà, được xem như là bộ thánh điển chuyên thuyết minh về việc cúng tế Thần linh. Do đó, hầu hết những người theo Bà la môn giáo, đều phải nằm lòng bốn thánh điển nầy. Đối với việc cúng tế Thần linh, họ rất tôn sùng và kính trọng. Vì theo giáo thuyết của đạo Bà la môn, người nào cúng tế như thế, thì sau khi mạng chung, sẽ được sanh lên cõi trời Phạm thiên để hưởng phước báo. Đó là một tập quán tín ngưỡng lâu đời của họ. Thế mà, khi gặp Phật, họ được Phật chuyển hóa và rồi sau đó, họ từ bỏ tập quán tín ngưỡng lâu đời mà quy y với Phật. Như thế, chúng ta mới thấy sự hóa độ của Phật, ít ra là bước đầu, chắc chắn là không phải chuyện dễ dàng. Đọc qua các bộ Thánh điển A hàm, ta thấy rất rõ về vấn đề nầy. Nghĩa là Phật đã đương đầu tranh luận với ngoại đạo, nhứt là đối với các vị tăng lữ Bà la môn. Vì kinh điển của họ cũng có những tư tưởng cao thâm. Chính đức Phật cũng hấp thụ và thu thái tinh hoa của tư tưởng kinh điển nầy. Sử liệu đã ghi lại cho chúng ta thấy như thế. Thế nên, trên bước đường giáo hóa của Phật, nếu như Ngài không có đủ uy đức và có nguồn giáo lý với hệ thống tư tưởng siêu việt vượt lên trên các trào lưu tư tưởng học thuyết đương thời, thì thử hỏi làm sao, họ có thể quy phục trở về với đức Phật cho được? Điều quan trọng nhứt, và đáng nói ở đây, là đức độ cảm hóa của đức Phật. Vì các vị giáo chủ lãnh tụ đương thời, chưa có vị nào có một đức độ và hiểu biết hơn Phật. Cho nên, nhờ đó, mà Phật mới dễ cảm hóa. Điều nầy, cũng cho chúng ta một bài học rất lớn về việc nhiếp hóa độ chúng. Muốn độ chúng cho có hiệu quả, tất nhiên, một vị tăng sĩ phải hội đủ hai yếu tố căn bản: đức độ và tài năng. Nhưng giữa hai yếu tố nầy, thì từ xưa tới nay, qua kinh nghiệm của chư Tổ sư cũng như của các bậc tăng già cho chúng ta biết, thì đức độ bao giờ cũng được nêu cao và đặt lên hàng đầu. Một người dù cho họ có tài giỏi, học rộng thông suốt đến đâu mà thiếu đức độ, thì họ cũng không hóa độ được ai. Đức độ có ra là nhờ vào giới luật. Người nào gìn giữ giới luật nghiêm minh, thì chắc chắn người đó sẽ được mọi người quy kính. Tuy nhiên, bên cạnh giới đức, người tăng sĩ cần phải có khả năng về học lực. Với thời đại khoa học văn minh tân tiến ngày nay, nó đòi hỏi người tăng sĩ phải có kiến thức rộng cả hai lãnh vực: “thế pháp và nội điển”. Trong hai điều nầy, thì phần nội điển là chính yếu, người tăng sĩ, bao giờ cũng phải coi trọng, vì nó là mạch sống căn bản của người tăng sĩ. Nói cách khác, nếu mang hình thức của một tăng sĩ mà giáo lý nội điển Phật giáo không thông, thì tự mình đã không được lợi ích, nói chi đến việc làm lợi ích cho người. Và như thế, thì người tăng sĩ, chắc chắn là sẽ bị người ta đánh giá rất thấp. Do đó, rất trở ngại trong việc hoằng hóa độ sanh. Hơn thế nữa, người ta đến với mình, không phải họ đến với cấp bằng học lực cao ngoài đời. Bởi những thứ nầy, đối với họ, họ coi thường. Vì họ cũng đã có và có khi họ còn có cao hơn chúng ta. Họ đến với đạo, mục đích là để tìm hiểu những gì khác hơn cái mà họ đã có. Cho nên, vấn đề được minh định rõ ràng rằng, đối với người tăng sĩ, bao giờ kiến thức Phật học cũng phải đặt nặng và tìm hiểu nghiên cứu học hỏi không ngừng. Vì đó là trách vụ và sở trường chuyên môn của người tăng sĩ. Còn thế pháp, kiến thức phổ thông, chỉ là phụ lực trong việc nghiên cứu và truyền bá chánh pháp mà thôi. Nếu người tăng sĩ đánh lộn sòng, thì rất là tai hại trong việc nghiên cứu và truyền bá chánh pháp. Trở lại vấn đề trên, việc tôn thờ Thần lửa để cúng tế của những vị theo đạo Bà la môn giáo, mà tiêu biểu như người cháu của Tôn giả Xá lợi Phất, sau khi đến gặp Phật, Phật dạy cho ông ta pháp cú nầy, bởi vì việc tế tự chỉ gây thêm nghiệp sát hại chúng sanh mà thôi, thực tế, không được lợi ích gì. Cứ mỗi lần cúng tế như thế, thì giết chết những mạng sống khác. Việc làm nầy, thử hỏi làm sao có phước cho được? Vì mê tín mà họ làm, bởi họ chưa được khai thông hiểu chánh lý nhân quả, nên khi đến với Phật, Phật sẽ chỉ bày và chuyển hóa họ được ngay, bởi do đức độ và uy tín của Phật quá rộng lớn, trùm khắp. Bên cạnh đó, Phật còn có nhiều người đệ tử tài giỏi. Hầu hết, các Ngài đều xuất thân từ giới lãnh tụ ngoại đạo quy kính đức Phật. Nhờ thế mà các vị ngoại đạo nầy, khi được gặp Phật là họ được khai thông và hồi đầu quy y Phật ngay. Từ đó, họ sẽ không còn theo con đường tà ngoại nữa.

🌿

Thiền sư AI

Trực tuyến

Con là bạn đồng hành AI, rất vui được cùng bạn chiêm nghiệm câu kệ số 107 này. Bạn có câu hỏi nào hay muốn hiểu sâu hơn về ý nghĩa của câu kệ không?