There is not track in the sky, and no recluse outside (the Buddha’s di spensation). There are no conditioned things that are eternal, and no inst ability in the Buddhas.
There is no track in the sky, and no recluse outside (the Buddha’s dispensation). There are no conditioned things that are eternal, and no instability in the Buddhas. Lược giảng “Câu chuyện xảy ra, liên quan đến du sĩ Tu bạt đà la (Subhadda ). Khi đức Thế tôn sắp nhập diệt, trong rừng Sa la trong thành Câu thi. Chuyện kể rằng, khi trước con của Tu bạt đã cúng dường chín lần những phẩm vật đầu mùa gặt cho đức Phật, còn Tu bạt thì không ưng và từ chối, cuối cùng mới chịu cúng. Vì thế ông không gặp Thế Tôn lúc Ngài vừa thành đạo và giảng đạo. Đến lúc cuối, Ngài gần nhập diệt, ông mới tự nghĩ: “Ta có ba điều nghi. Và đã hỏi các Trưởng lão để giải nghi. Lúc ấy Sa môn Cồ đàm còn trẻ nên ta không đến hỏi. Bây giờ thời gian Niết bàn sắp đến, nếu ta không hỏi, sau sẽ ân hận.” Ông đi đến chỗ Phật. Tôn giả A nan ngăn ông lại, nhưng Phật đã bảo: -A nan, chớ ngăn Tu bạt đà la, hãy để ông vào thưa hỏi. Tu bạt vào, ngồi ở chân giường và hỏi Phật: -Bạch Ngài, có con đường nào trên không trung? Có người nào được gọi Sa môn khi ở ngoài chánh đạo? Pháp hữu vi có trường tồn? Phật dạy ông những việc ấy không thể có, và nhân đó Ngài nói hai pháp cú này ». (Trích nguyên văn Tích Truyện Pháp Cú tập III, Viên Chiếu, tr 81) Hai pháp cú trên, Phật nêu ra ba vấn đề xác minh rất rõ. Thứ nhứt, Phật nói: “giữa hư không thì làm gì có dấu vết”. Đây là Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt mà ông Tu bạt đã nêu ra. Giữa bầu trời trong tạnh, một đàn chim bay qua, chúng không để lại một dấu vết gì cả. Bầu trời không có ý lưu lại hình ảnh của chúng. Và chúng cũng không có ý muốn lưu lại hình ảnh của chúng khi bay ngang qua bầu trời. Mà dẫu có muốn để lại cũng không được. Đây là một hình ảnh thật giải thoát. Chim nhạn qua dòng nước Chẳng lưu lại vết hình Nước vô tâm in bóng Nhạn vô ý lưu hình. & Biển ngàn in trăng bóng Duy nhất một vầng trăng Tùy vọng thấy sai khác Nào trăng có đổi thay. & Trời xanh én lượn êm đềm Ngàn sao lấp lánh vẫn yên bầu trời Thuyền chèo bạt nước mù khơi Trở về bến cũ thảnh thơi an nhàn. Bầu trời là dụ cho người tu đã đạt được quả vị Niết bàn. Vì Niết bàn là vô sanh. Vô sanh là không còn một dấu vết phiền não. Phiền não có ra là do có vọng tưởng. Mà còn vọng tưởng là còn có sanh diệt. Hết vọng tưởng thì hết sanh diệt. Đến đây, là tịch diệt, là Niết bàn an lạc. Niết bàn ở đây là Phật ngầm chỉ cho Niết bàn của hàng A la hán. Vì A la hán đã dứt hết phiền não “Kiến, Tư” hoặc. Nên trong kinh thường nói các Ngài này là việc lợi mình đã xong. Đã xong việc lợi mình, nhưng còn việc lợi người, thì các Ngài rất ngao ngán, không dám hóa độ. Do đó, nên các Ngài bị Phật quở: “trầm không trệ tịch hay khôi thân diệt trí”. Sự khác biệt giữa Thanh Văn và Bồ tát là ở chỗ bản nguyện độ sanh. Nhưng phải đến quả vị Phật thì việc tự lợi, lợi tha mới hoàn toàn viên mãn, nên gọi Phật là giác hạnh viên mãn. Thứ hai, Phật nói: “trong ngoại đạo làm gì có Sa môn”. Sa môn (Samano) chỉ cho những vị đã chứng ngộ bốn thánh quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán. Trong bốn thánh quả này, ngoại trừ quả vị A la hán ra, còn lại ba quả vị trước là các Ngài đang tu tập hướng tiến đến quả vị Niết bàn A la hán. Sở dĩ Phật nói bốn quả vị này khác với ngoại đạo là vì những vị này nhân nghe Phật nói pháp Tứ đế, mà các Ngài y cứ vào đó nỗ lực tiến tu diệt trừ hết tập nhân phiền não, nên các Ngài đạt được quả vị Niết bàn. Trong khi đó, ngoại đạo, họ không xoay lại để diệt trừ tập nhân phiền não, mà họ chỉ một bề hướng ngoại tìm cầu, nên họ không thể chấm dứt đường sanh tử khổ đau. Dù cho họ có đủ lực dụng thần thông, nhưng đó chỉ là thứ thần thông do họ công phu luyện tập mà có. Nói tóm lại, họ là người tu chạy theo cái ngọn, hướng ngoại tìm cầu, mà không căn cứ vào cái gốc là quán sát nội tâm để gạn lọc dứt hết phiền não. Do đó, nên gọi họ là ngoại đạo. Nghĩa là ngoài tâm cầu đạo đều gọi chung là ngoại đạo. Sự khác biệt giữa ngoại đạo và Sa môn, (tức những người tu theo đạo giải thoát sanh tử khổ đau) là ở chỗ đó. Thứ ba, Phật nói: “chúng sanh thì thích điều hư vọng, mà Như Lai làm gì còn hư vọng”. Ta nên chú ý ở câu chót này (tạm gọi) giữa pháp cú 254 và 255 có hơi khác. Pháp cú 255, Phật nói: “Năm uẩn thì không thường trú, mà Như Lai thì chẳng loạn động bao giờ”. Câu trên (254) Phật nói rõ, chúng sanh thì thích điều hư vọng, mà Như Lai làm gì còn hư vọng. Hư vọng là giả dối không thật. Là không phù hợp với chân lý. Phật nói, chúng ta là những người thích sống chạy theo giả dối. Dùng mọi thứ giả dối để khuynh loát lừa gạt lẫn nhau để sống. Người nào khôn khéo biết cách xử dụng nhiều thứ giả dối che mắt người đời, thì người ta gọi những người đó là tài giỏi. Còn người nào không khéo lừa bịp che mắt thiên hạ hay nói năng những lời chân thật phù hợp với chân lý, thì bị người ta cho đó là quê mùa vụng về. Vì họ không có tài xảo thuật mánh khóe lừa bịp. Lời thật bao giờ cũng trái tai người nghe. Cứ thế, mà người ta đua nhau tranh tài dùng mọi mánh khóe thủ thuật để nói dối. Càng nói dối gạt gẫm thiên hạ nhiều chừng nào, thì sẽ được mọi người tán dương và có lợi nhiều chừng đó. Thế thì, đời sống của chúng ta, nếu đem giáo Pháp Phật dạy ra mà quán chiếu thật kỹ, thì than ôi! tất cả chúng ta toàn là những người sống giả dối. Mọi vật đều giả dối. Nhưng vì lòng si mê chấp “ngã, pháp” quá nặng, nên đối với chúng ta cái gì cũng cho là thật hết. Không ai biết mình đang sống trong giả dối. Cái thân tạm bợ không thật, hay xấu xí giống như ma trơi, nhưng phải nói là cái thân này sống lâu và đẹp đẽ. Còn nói thân này giả dối, không sạch giống như cầu xí, thì người ta cho kẻ đó nói khùng điên. Nhưng có phải thật sự là khùng điên hay không? Hay những kẻ bưng bít không dám nói thẳng, nhìn thẳng vào sự thật cuộc đời mới thật là khùng điên? Chắc ai cũng nói kẻ mà nói thật, nói thẳng, vì không khéo chiều được lòng thiên hạ, thì quả kẻ đó là khùng điên rồi. Vấn đề này, xin để mỗi người hãy bình tâm suy xét và mỗi người tự tìm cho mình một kết luận thích đáng. Ngược lại, Phật nói Như Lai làm gì còn hư vọng. Như Lai là nghĩa bất sanh bất diệt, vượt ngoài đối đãi nhị nguyên, thế thì còn nói cái gì là vọng hay không vọng. Càng nói càng sai lầm. Xin đừng vẽ rắn thêm chưn, hay đầu lại thêm đầu. Những lời nói chỉ là hư vọng làm sao nói đến chỗ chân thật cho được. Đến chỗ tuyệt đối, thì ngôn ngữ hoàn toàn bất lực đầu hàng. Như Lai là Như Lai. Chỉ có thế thôi! Pháp cú 255, Phật nói năm uẩn thì không thường trú, mà Như Lai thì chẳng loạn động bao giờ. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành , thức. Những thứ này cũng do nhân duyên giả hợp mà có, bản thân nó là giả dối không thật. Vì chúng chỉ là những hiện tượng trên bề mặt của ý thức. Chỉ là những lượn sóng nổi lô nhô trên mặt biển phẳng lặng. Sóng thì khi có, khi không, nên nói chúng không thường trú. Chúng là những pháp hữu vi. Nhưng mặt biển thì không vắng mặt bao giờ. Như lai làm gì có loạn động? Mặt biển là mặt biển. Mặt biển không động, không loạn. Loạn động là sóng chớ không phải mặt biển. Nhưng rời mặt biển thì không có sóng. Cũng thế, mọi hiện tượng tâm lý dấy khởi không rời bản tâm. Nhưng bảo toàn sóng chính là mặt biển là sai. Vì sóng và mặt biển tuy hai nhưng không phải hai. Vì ly khai mặt biển thì không có sóng. Vọng và chơn cũng thế. Lìa chúng sanh thì không có Như Lai. Lìa vọng thì không có chơn. Phiền não không rời bồ đề mà có. Nhưng chớ nhận lầm phiền não là bồ đề. Xin chớ nhận lầm nước đục là nước trong. Nhưng muốn có nước trong, cần phải lóng lặng hết cặn bã nhơ đục. Muốn có bồ đề, phải dứt hết phiền não. Đó là nghĩa Như Lai không phải là chúng sanh. Lìa vọng không chơn, lìa chơn không có vọng. Đây là pháp môn Bất Nhị. Nói một là sai mà nói hai thì không đúng. Như vậy cái gì có sanh có diệt đều là những hiện tượng giả dối, không thật. Còn cái gì không sanh không diệt, thì cái đó mới chân thật thường còn. Xin mọi người hãy lặng sâu để sống cho được cái chân thật thường còn này. Vì đó mới đích thực là con người thật của chúng ta. Còn sống tranh đua hơn thua với con người giả dối này, thì than ôi ! chúng ta sẽ còn khổ đau tiếp nối dài dài và không biết ngày nào mới được thoát ra! XIX. PHẨM PHÁP TRỤ (Dhammatthavaggo)

Deep Commentary

This story is related to the wanderer Subhadda, when the World-Honored One was about to enter parinibbana in the Sala grove in the city of Kusinara. It is said that before, Subhadda's son had offered the Buddha nine times the first fruits of the harvest, but Subhadda himself was unwilling and refused, finally only agreeing to offer. Because of this, he did not meet the World-Honored One when he first attained enlightenment and taught the Dharma. At the end, when the Buddha was about to enter parinibbana, Subhadda thought to himself: "I have three doubts. I have asked the elders to resolve them. At that time, the ascetic Gotama was still young, so I did not go to ask him. Now the time of his Nibbana is approaching; if I do not ask him, I will regret it later." He went to where the Buddha was. Venerable Ananda tried to stop him, but the Buddha said: "Ananda, do not stop Subhadda; let him come in and ask." Subhadda entered, sat at the foot of the bed, and asked the Buddha: "Venerable Sir, is there any path in the sky? Is there anyone called a recluse outside the true path? Can conditioned things be eternal?" The Buddha taught him that these things are impossible, and on that occasion spoke these two verses. In these two verses, the Buddha clarified three issues clearly. First, he said: "There is no track in the sky." This answers Subhadda's first question. In the clear sky, a flock of birds flies through, leaving no trace. The sky has no intention of retaining their image, nor do the birds intend to leave an image. Even if they wanted to, they could not. This is a truly liberating image. The sky is a metaphor for one who has attained Nibbana. Nibbana is unborn. Being unborn means no trace of defilements remains. Defilements arise from deluded thoughts. Where there are deluded thoughts, there is birth and death. When deluded thoughts cease, birth and death cease. That is peaceful extinction, the bliss of Nibbana. Here, the Buddha implicitly refers to the Nibbana of the arahants, who have eradicated all defilements of view and passion. Thus the scriptures say that they have completed their own welfare. Having completed their own welfare, they are reluctant to engage in the welfare of others, not daring to teach. Therefore, the Buddha criticized them as "sinking into emptiness, attached to stillness, or destroying their bodies and annihilating their wisdom." The difference between a disciple (sravaka) and a bodhisattva lies in the original vow to save beings. Only at the stage of Buddhahood are both self-benefit and other-benefit fully perfected, hence the Buddha is called the Perfectly Enlightened One. Second, the Buddha said: "There is no recluse outside (the Buddha's dispensation)." A recluse (samana) refers to one who has realized the four stages of sanctity: stream-enterer, once-returner, non-returner, and arahant. Except for the arahant, the first three are still training to attain arahant Nibbana. The reason the Buddha said these four are different from non-Buddhists is that they, having heard the teaching of the Four Noble Truths, strive to eradicate the accumulated causes of defilements and thus attain Nibbana. Non-Buddhists, on the other hand, do not turn inward to eradicate the accumulated causes of defilements, but only seek outwardly; therefore they cannot end the suffering of birth and death. Even if they possess psychic powers, those powers are acquired through training. In short, they pursue the branches rather than the root, seeking outward without observing the mind to eliminate defilements. Hence they are called outsiders (non-Buddhists), meaning all those who seek the path outside the mind are collectively called outsiders. That is the difference between outsiders and recluses (those who practice the path of liberation from suffering and death). Third, the Buddha said: "Mankind delights in worldliness, but the Buddhas are free from worldliness." Note that the concluding sentence of verse 255 is slightly different: "There are no conditioned things that are eternal, and no instability in the Buddhas." In verse 254, the Buddha clearly said that beings delight in falsehood, but the Tathagata has no falsehood. Falsehood is deception, unreality, not in accordance with truth. The Buddha said that we are people who delight in chasing after falsehood, using all kinds of deception to cheat one another to survive. Those who skillfully use many deceptions to blind others are called clever. Those who are not adept at deception, or who speak truthful words in accordance with reality, are considered rustic and clumsy because they lack the art of deceit. Truthful words are always unpleasant to hear. Thus people compete to use every trick and technique to lie. The more they lie and deceive, the more they are praised and the more they profit. Therefore, if we carefully reflect on our lives in light of the Buddha's teachings, alas! we are all living in deception. Everything is false. But because of our deep ignorance and clinging to self and phenomena, we take everything as real. No one knows they are living in falsehood. This temporary body is unreal, ugly like a will-o'-the-wisp, yet we say it lasts long and is beautiful. If one says this body is false, impure like a toilet, people call him mad. But is he truly mad? Or are those who cover up, who dare not speak directly and face the truth of life, the real madmen? Surely everyone would say that the one who speaks truthfully and directly, because he cannot skillfully please people, is indeed mad. Let each person calmly consider this and draw their own conclusion. Conversely, the Buddha said the Tathagata has no falsehood. The Tathagata is the meaning of unborn and undying, beyond dualistic opposition. Then what is there to call false or not false? The more one speaks, the more mistaken. Do not draw legs on a snake or add a head to a head. Words are merely false; how can they reach the truth? At the absolute level, language is completely powerless and surrenders. The Tathagata is just the Tathagata. That is all. In verse 255, the Buddha said the five aggregates are not eternal, and the Tathagata is never agitated. The five aggregates are form, feeling, perception, mental formations, and consciousness. These things arise through conditional combination; their nature is false and unreal. They are merely surface phenomena of consciousness, like waves rising on a calm ocean. Waves appear and disappear, so they are not eternal. They are conditioned things. But the ocean never disappears. How could the Tathagata be agitated? The ocean is the ocean. It does not move, not agitated. Agitation belongs to the waves, not the ocean. Yet apart from the ocean, there are no waves. Likewise, all mental phenomena arise without leaving the original mind. But to say that the waves are entirely the ocean is wrong. Waves and the ocean are two yet not two, because apart from the ocean there are no waves. Delusion and truth are the same. Apart from sentient beings, there is no Tathagata. Apart from delusion, there is no truth. Defilements do not arise apart from bodhi. But do not mistake defilements for bodhi. Do not mistake turbid water for clear water. To have clear water, one must settle and remove all sediment. To have bodhi, one must eradicate all defilements. This means the Tathagata is not a sentient being. Apart from delusion, there is no truth; apart from truth, there is no delusion. This is the door of non-duality. To say one is wrong, to say two is not correct. Thus whatever has birth and death is a false, unreal phenomenon. What is unborn and undying is truly eternal. May everyone dwell deeply in stillness to live this true eternal reality. For that is our true self. If we continue to compete and struggle with this false self, alas! we will suffer endlessly, not knowing when we will escape. Chapter XIX: The Established in Dhamma (Dhammatthavagga).

🌿

Zen Assistant

Online

Welcome. I am your Zen AI companion, here to help you reflect on Verse 255. Do you have any questions or wish to explore its meaning further?